Một, điểm trọng tâm phân biệt chứng và điều trị Truyền thống cho rằng thận không có chứng biểu và chứng thực, nhiệt ở thận là biến chứng của âm hư, hàn ở thận là do dương hư, nhưng theo thực tế lâm sàng, chứng thực ở thận vẫn tồn tại, ví dụ như thấp nhiệt nội tàng, ứ huyết tắc kinh, sỏi chặn, v.v., là chứng thực ở thận, hoặc chứng hư trung tạp thực. Chứng hư ở thận thường chia thành hai loại: âm hư và dương hư. Nguyên tắc điều trị tổng quát là "bồi bổ phần thiếu, không nên đánh vào phần đủ". Người âm hư tránh ăn cay nóng, tránh thuốc đắng lạnh quá mức, nên dùng các dược liệu ngọt nhuận bổ thận, bổ âm phối hợp dương, khiến hỏa hư tiêu đi, dương trở về âm, gọi là "tráng thủy chi chủ, để chế dương quang"; người dương hư tránh mát ướt, tránh thuốc cay tán, nên dùng các dược liệu ngọt ấm bổ khí, bổ dương phối hợp âm, khiến âm trầm tan đi, âm theo dương, gọi là "dưỡng hỏa chi nguyên, để tiêu âm翳". Ngoài ra, dựa theo lý luận âm dương tương căn, khi bổ dương phải chú ý âm dịch, khi bổ âm phải chú ý dương khí, gọi là "giỏi bổ dương thì nhất định phải tìm dương trong âm, thì dương được âm trợ mà sinh hóa vô cùng; giỏi bổ âm thì nhất định phải tìm âm trong dương, thì âm được dương trợ mà nguồn suối không cạn". Đối với âm dương đều hư, là tổn thương tinh khí cả hai, nên bổ cả âm và dương. Người âm hư thận thường dẫn đến tương hỏa tăng cường, đây là biến chứng do âm hư sinh nội nhiệt, phương pháp điều trị nên bổ âm chủ yếu, kết hợp thanh tả tương hỏa; người dương hư thận, trên nền tảng ôn thận tráng dương, phải thêm các dược liệu bổ tinh, bổ tủy, để nuôi dưỡng nguồn sinh hóa. Hai, phân loại chứng trị (I) Dương hư thận 1. Thận khí bất cố Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Làm việc quá sức, bệnh lâu không dưỡng, dẫn đến thận khí tổn thương, mất chức năng khóa chặt, giữ giữ. Chứng mạch chính: Mặt tái nhợt, lưng gối mỏi, thính lực giảm, tiểu tiện nhiều, nước tiểu trong, hoặc sau khi tiểu còn dư lượng, nghiêm trọng hơn thì tiểu không kiểm soát, hoặc tiểu đêm nhiều, nam giới tinh tinh, xuất tinh sớm, nữ giới khí hư trong, lưỡi nhạt, lớp lưỡi trắng mỏng, mạch tế yếu. Phương pháp điều trị: Bổ thận cố khí. Ví dụ phương thuốc: Thủy Lục Nhị Tiên Đan, Ngũ Tử Diễn Tông Hoàn. 2. Thận bất nạp khí Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Mệt mỏi tổn thương thận khí, hoặc bệnh lâu khí hư, khí không quy nguyên, thận mất chức năng thu nạp. Chứng mạch chính: Ngắn hơi, thở gấp, càng vận động càng nặng, thể hình gầy, thần khí mệt mỏi, nghiêm trọng hơn thì thở gấp tăng, mồ hôi lạnh, tay chân lạnh, mặt xanh, mạch nổi nhưng không có căn. Phương pháp điều trị: Bổ thận nạp khí. Ví dụ phương thuốc: Nhân Sâm Hồ Đào Thang, Thang Tỳ Tế. 3. Dương hư thận bất trấn Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Sinh lý yếu, bệnh lâu không khỏi, hoặc lao lực tổn thương thận, hạ nguyên tổn thương, mệnh môn hỏa suy. Chứng mạch chính: Mặt nhợt nhạt hoặc xám đen, sợ lạnh, tay chân lạnh, đau mỏi lưng gối, tinh thần uể oải, nam giới liệt dương, vô sinh, nữ giới lãnh cảm, không thể mang thai, hoặc tiêu chảy kéo dài, chưa tiêu hóa thức ăn, hoặc tiêu chảy lúc 5 giờ sáng. Phương pháp điều trị: Ôn bổ dương thận. Ví dụ phương thuốc: Hữu Quy Hoàn, Kim Quí Thận Khí Hoàn. 4. Thận hư thủy phạm Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Sinh lý vốn yếu, bệnh lâu không dưỡng, dương thận tổn thương, không thể ôn hóa thủy dịch, thủy tà lan tràn lên trên hoặc tràn ra ngoài da thịt. Chứng mạch chính: Toàn thân phù, đặc biệt nặng ở vùng dưới lưng, tiểu ít, hoặc ho khan, thở gấp, đờm nhiều và loãng, vận động thì thở nặng hơn, lưỡi nhạt, lớp lưỡi trắng, mạch trầm tế hoặc trầm huyền. Phương pháp điều trị: Ôn dương lợi thủy. Ví dụ phương thuốc: Chân Vũ Thang; Thực Tỳ Ẩm. (II) Âm hư thận 1. Âm hư thận Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Quan hệ tình dục không điều độ, lao lực quá mức, hoặc sau bệnh lâu, chân âm bị tổn thương. Chứng mạch chính: Thể hình yếu, chóng mặt, tai ù, quên, đau lưng, chân mềm, họng khô, miệng khát, lưỡi đỏ, lớp lưỡi ít, mạch tế. Phương pháp điều trị: Dưỡng âm thận. Ví dụ phương thuốc: Lục Vị Địa Hoàng Thang. 2. Âm hư hỏa vượng Tóm tắt cơ chế bệnh lý: Lao lực quá mức, tổn thương âm thận, hoặc sau bệnh nhiệt, âm dịch bị tổn thương, âm hư sinh nội nhiệt, thủy hư thì hỏa nổi. Chứng mạch chính: Gò má đỏ, môi đỏ, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, đau lưng, đau cột sống, phiền não, mất ngủ, dương khởi mơ mộng, miệng khô, họng đau, tiểu ngắn vàng, đại tiện khô, lưỡi đỏ, lớp lưỡi ít, mạch tế số. Phương pháp điều trị: Dưỡng âm giáng hỏa. Ví dụ phương thuốc: Tri Bá Địa Hoàng Thang.
|