Loét miệng là bệnh phổ biến và thường gặp trong lâm sàng. Do bệnh có mới, cũ, chứng có hư, thực, nguyên nhân khác nhau, triệu chứng đi kèm khác nhau, nên phương pháp điều trị cũng khác nhau. Tổng kết lại, chủ yếu có sáu phương pháp điều trị sau đây. Một, thanh tả tỳ vị pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do tích nhiệt ở tỳ vị. Tích nhiệt ở tỳ vị thường do ăn uống không điều độ, hoặc ăn nhiều đồ cay nóng, hoặc ăn nhiều đồ béo ngậy rượu thịt gây ra. Triệu chứng ngoài loét miệng nhiều chỗ, quanh loét đỏ sưng, thường kèm theo khát nước uống lạnh, tiểu vàng, đại tiện khô, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng, mạch trầm thực hoặc hồng trơn. Cần thanh tả nhiệt ở tỳ vị. Dùng bài thuốc Tả Hoàng Tán (hoạt hương, phòng phong mỗi thứ 9g, sinh thạch cao 30g, chi tử 15g, cam thảo 6g) gia thêm hoàng liên 9g. Nếu sau khi dùng thuốc đại tiện không xuống, thêm đại hoàng 9g, khi đại tiện ra thì bỏ đi. Sau khi khỏi, dùng bài thuốc Trúc Diệp Sứ Cốt Thang (trúc diệp, chế bán hạ mỗi thứ 9g, sinh thạch cao 24g, đảng sâm, cốc gạo mỗi thứ 15g, mạch môn 18g, cam thảo 6g) để điều dưỡng, thì không tái phát! Hai, thanh tâm dẫn xích pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do tâm hỏa di truyền vào tiểu trường. Y học cổ truyền cho rằng tâm và tiểu trường tương ứng với nhau, tâm có hỏa, tâm nhiệt di truyền vào tiểu trường. Ngoài loét miệng, thường kèm theo tâm phiền, bồn chồn, khát nước, tiểu vàng, nóng rát hoặc đau tiểu, tiểu ra máu, lưỡi đỏ, mạch sốt. Cần thanh tâm dẫn xích. Tôi điều trị bệnh này thường dùng dẫn xích tán (sinh địa 15g, trúc diệp, mộc thông mỗi thứ 9g, cam thảo 3g) gia thêm hoàng liên 9g, liên kiều 15g, bạch mao căn 30g. Ba, bổ khí kiện tỳ pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do khí hư ở tỳ vị. Khí hư ở tỳ vị thường do ăn uống mệt nhọc, hoặc nôn mửa quá nhiều, hoặc sau bệnh nặng tổn thương khí ở tỳ vị. Triệu chứng ngoài loét miệng không đỏ, không sưng, đau nhẹ, kéo dài không khỏi, thường kèm theo tinh thần kém, tứ chi mệt mỏi, ăn ít, đại tiện lỏng, lưỡi nhạt, lớp lưỡi mỏng, mạch yếu. Cần bổ khí kiện tỳ, dùng bài thuốc Tham Lăng Bạch Truật Hoàn hoặc Hương Sa Dưỡng Vị Hoàn giữ phương, hiệu quả rất tốt. Bốn, ích khí sinh tân pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do tổn thương khí tân ở tỳ vị. Tổn thương khí tân ở tỳ vị thường do tà nhiệt nóng xâm nhập cơ thể, tổn thương khí tân ở tỳ vị. Triệu chứng là loét miệng kèm theo tâm phiền, miệng khô, tinh thần mệt mỏi, không đói, không ăn, khát nước uống ít, ra mồ hôi, thở ngắn, lưỡi đỏ, lớp lưỡi ít, mạch tế sốt yếu. Cần bổ ích khí tân ở tỳ vị. Dùng bài thuốc Mạch Môn Đông Thang của Trương Trọng Cảnh (mạch môn 18g, nhân sâm, bán hạ mỗi thứ 9g, táo 12g, cốc gạo 30g, cam thảo 6g) gia thêm thạch hộc, ô mai mỗi thứ 15g. Năm, dưỡng âm thanh hỏa pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do âm hư hỏa vượng. Âm hư hỏa vượng thường do suy nghĩ quá mức làm tổn thương âm tâm, hoặc sau bệnh nhiệt tổn thương âm. Triệu chứng ngoài loét miệng lúc khỏi lúc tái phát, liên tục, kéo dài không khỏi, còn kèm theo tâm phiền bất an, mất ngủ, nhiều mộng, lưỡi đỏ, lớp lưỡi ít hoặc không có, mạch tế sốt. Cần dưỡng âm thanh hỏa, dùng bài thuốc Hoàng Liên Á Giáp Cơ Tử Hoàng Thang (hoàng liên 6g, hoàng cầm, á giáp mỗi thứ 9g, bạch thược 15g, cơ tử hoàng 1 quả) điều chỉnh để chữa, rất hiệu quả. Nếu các triệu chứng trên còn thấy khát nước vào ban đêm, đau lưng, mỏi chân hoặc di tinh, xuất tinh sớm, thì là do thận hư hỏa vượng. Cần dưỡng âm hạ hỏa, dùng bài thuốc Tri Bá Địa Hoàng Hoàn để chữa. Sáu, ôn bổ dương khí pháp: phương pháp này dùng cho loét miệng do dương hư. Loét miệng do dương hư trong lâm sàng khá hiếm gặp. Nguyên nhân thường do thể chất dương khí vốn yếu, hoặc đổ mồ hôi quá nhiều, hoặc dùng thuốc hạ quá mức, hoặc bệnh lâu dài tổn thương dương khí trong cơ thể. Tôi đã điều trị chứng này hơn 40 năm, tổng cộng 12 trường hợp, khỏi 6 trường hợp, 4 trường hợp có hiệu quả rõ rệt, 2 trường hợp không hiệu quả. Kinh nghiệm là: dương hư tỳ vị, biểu hiện bụng lạnh, trướng, đau lúc, đại tiện lỏng, ăn ít, vị không ngon, lưỡi trắng, mạch trầm yếu, dùng lý trung thang (nhân sâm 9g, can khương, bạch truật mỗi thứ 12g, chích cam thảo 6g) gia thêm mộc hương, sa nhân mỗi thứ 9g, cốc nha 30g, sơn tra 15g; dương hư thận, biểu hiện sợ lạnh, không sốt, đau lưng, đau thắt lưng, liệt dương, xuất tinh trôi, dùng Kim Quí Thận Khí Hoàn giữ phương; dương hư cả tỳ và thận, dùng tứ thần hoàn (bổ cốt chỉ 15g, ngũ châu dư, nhục đậu khấu mỗi thứ 9g, ngũ vị tử 6g) gia thêm phụ tử.
|