Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Other / Thực tế y học cổ truyền / Bốn phương pháp điều trị vô sinh miễn dịch ở nam giới theo phân biện chứngBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Bốn phương pháp điều trị vô sinh miễn dịch ở nam giới theo phân biện chứng

Metchkinikoff (1899) và Metelnikoff (1890) phát hiện tinh trùng có tính kháng nguyên và có thể kích thích tạo kháng thể đặc hiệu, mở ra kỷ nguyên mới trong sinh sản miễn dịch. Từ thập niên 50 của thế kỷ này, Wilson và Rumre phát hiện kháng thể chống tinh trùng (ASAB) trong máu của bệnh nhân vô sinh nam, khơi dậy sự quan tâm lớn từ giới y khoa đối với vô sinh miễn dịch. Mặc dù trong những năm gần đây, nghiên cứu rộng rãi trong và ngoài nước đã đạt được tiến triển nhất định, nhưng vô sinh miễn dịch ở nam giới vẫn là một trong những bệnh nan y khó giải quyết trong lĩnh vực nam khoa, hiện tại vẫn chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu. Tôi qua nhiều năm thực hành lâm sàng, vận dụng nguyên tắc phân biện chứng trị liệu, thu được hiệu quả nhất định. Dưới đây xin giới thiệu bốn phương pháp thường dùng.
1. Dưỡng can thận, sinh tinh huyết, bổ hư trợ dục. Nam giới lấy tinh làm gốc, lấy khí làm dụng, tinh huyết âm dịch đầy đủ thì ngũ tạng chức năng mạnh mẽ, tránh được sự xâm nhập của các tà khí. Nay can thận tinh huyết suy kiệt, khí huyết mất điều hòa, tinh phủ trống rỗng, lại bị tà khí quấy nhiễu, dẫn đến sinh kháng thể. Bệnh nhân kiểu này thường có tiền sử quá độ thủ dâm, ham muốn tình dục quá mức hoặc tổn thương, nhiễm trùng bộ phận sinh dục. Triệu chứng: buổi chiều sốt nóng, lòng bàn tay, bàn chân nóng, khát nước muốn uống, đau lưng mỏi gối, tiểu vàng, táo bón, ra mồ hôi ban đêm, lưỡi đỏ ít lớp, mạch tế căng. Điều trị nên dưỡng can thận. Phương dùng chuyển âm sinh tinh 1号 phương (phương tự lập): sinh địa, thục địa, trạch tả, đan bì, sơn dư, câu kỷ tử, hoàng tinh, sơn dược, tri mẫu, phục linh mỗi vị 10g, sinh bá kết (tiên tiên), sinh mẫu lệ (tiên tiên) mỗi vị 30g, bại đào can, bích ngọc tán (bao) mỗi vị 15g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Ví dụ 1: Trương M., nam, 33 tuổi. Khám lần đầu ngày 6 tháng 9 năm 1994. Tự kể sau cưới 3 năm không có con, vợ chồng sống chung, quan hệ tình dục bình thường. Kiểm tra vợ không có bất thường. Xét nghiệm tinh dịch nằm trong phạm vi bình thường, huyết thanh ASAB (+). Hiện tại: tinh thần uể oải, đau đầu, mắt mờ, lúc có ù tai, khát nước muốn uống, đau lưng mỏi gối, tiểu vàng, lưỡi đỏ, lớp mỏng, mạch tế số. Chứng thuộc can thận âm hư, hư hỏa nội nhiễu. Điều trị nên dưỡng âm thanh hỏa, dùng phương chuyển âm sinh tinh 1号 gia giảm. Sau điều trị 4 tháng, tái khám xét nghiệm tinh dịch, huyết thanh ASAB hai lần đều bình thường, tiếp tục cố định 2 tháng, vợ mang thai.
2. Bổ tỳ thận, trợ tiêu hóa, ích khí cố藩. Bệnh này tuy do thận gây ra, nhưng thận tinh bẩm sinh cần được bổ sung bởi tinh vi thủy cốc hậu thiên, hơn nữa "tỳ khí phân tinh, thượng quy ư phế", khí âm phế nguồn gốc từ tỳ thận, khí vệ phế có thể nuôi dưỡng toàn thân, làm ẩm da, chống tà, tăng cường chức năng miễn dịch, làm thành rào cản bề mặt cơ thể. Mức độ cường yếu khí vệ liên quan mật thiết đến sự điều hòa chức năng miễn dịch cơ thể, khí phế tỳ yếu dẫn đến sinh kháng thể miễn dịch. Bệnh nhân kiểu này thường có tiền sử nhiễm trùng đường hô hấp trên hoặc bệnh đường ruột, thường xuyên cảm lạnh, không chịu được mệt mỏi, nghẹt mũi đau đầu, đau họng ho, hoặc ăn ít, tiêu chảy, bụng đầy, đau, buồn nôn, nôn, chóng mặt, ra mồ hôi tự phát, sắc mặt nhợt nhạt, lưỡi nhạt, lớp mỏng trắng, mạch tế yếu. Điều trị nên kiện tỳ bổ phế, ích khí cố藩. Phương dùng chuyển âm sinh tinh 2号 phương (phương tự lập): hoàng kỳ, sơn dược, bạch truật, phục linh, đảng sâm, ích nhân mỗi vị 15g, kê nội kim, đương quy, túc tư tử, hoàng tinh mỗi vị 10g, mộc hương (sau hạ), ngũ vị tử mỗi vị 6g, sơn nhân (sau hạ) 3g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Ví dụ 2: Lý M., nam, 33 tuổi. Khám lần đầu ngày 10 tháng 5 năm 1993. Cưới 4 năm không có con, vợ chồng sống chung, quan hệ tình dục bình thường, kiểm tra vợ bình thường. Xét nghiệm tinh dịch bình thường, huyết thanh ASAB (+), từng dùng thuốc đông tây y điều trị không hiệu quả. Hiện tại: bệnh nhân có viêm mũi mạn tính và viêm họng mạn tính, dễ cảm lạnh, lúc nào cũng nghẹt mũi đau họng, sắc mặt nhợt nhạt. Lưỡi nhạt, lớp mỏng trắng, mạch trầm yếu. Dùng phương chuyển âm sinh tinh 2号 gia giảm, uống liên tục hơn 3 tháng, các triệu chứng dần khỏi, ít bị cảm lạnh hơn. Kiểm tra lại tinh dịch bình thường, huyết thanh ASAB âm tính. Vẫn dùng phương cũ cố định thêm 3 tháng, vợ mang thai, sinh con gái bình an.
3. Hóa thấp trọc, giải nhiệt độc, sạch dòng nguồn. Viêm hệ thống sinh dục nam giới, tỷ lệ dương tính với kháng thể chống tinh trùng trong huyết thanh và tinh dịch cao, đây là nguyên nhân quan trọng gây phản ứng miễn dịch. Nguyên nhân sâu xa là do ăn uống quá nhiều thức ăn béo ngậy hoặc nghiện rượu, tổn thương tỳ vị, vận hóa không chức năng, hoặc nhiễm độc tố ô uế, thấp trọc nhiệt độc hạ trệ, thiêu đốt tinh phủ, tà nhiệt đốt cháy huyết, thấp trọc độc tà nhiễu loạn đạo tinh dẫn đến bệnh. Bệnh nhân kiểu này thường có tiền sử viêm tuyến tiền liệt cấp và mạn tính, viêm tinh hoàn và viêm bìu. Triệu chứng: tiểu nhiều, tiểu gấp, tiểu không thoải mái, hoặc cuối tiểu có dịch trắng, cảm giác tiểu không hết, đau âm đạo, hoặc cảm giác nặng nề, hoặc cảm giác khó chịu ở tinh hoàn, bìu, nước tiểu đục, hoặc màu vàng lắng đọng, lưỡi đỏ, lớp mỏng trắng rễ vàng bết, mạch huyền trượt. Điều trị bằng thanh nhiệt lợi thấp, giải độc tả trọc. Phương dùng chuyển âm sinh tinh 3号 phương (phương tự lập): bạch tật lê, phục linh mỗi vị 15g, đan sâm, xe tiền tử (bao), ích trí nhân, bạch truật, sơn viên tử, xuyên ngưu tất, ô dược mỗi vị 10g, bạch hoa thiệt thảo, thổ phục linh, ích mẫu thảo mỗi vị 30g, thạch dương hồ, hoàng bách mỗi vị 6g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Ví dụ 3: Vương M., nam, 32 tuổi. Khám lần đầu ngày 20 tháng 4 năm 1994. Cưới 2 năm không có con, vợ chồng sống chung, quan hệ tình dục bình thường, kiểm tra vợ không có bất thường. Xét nghiệm tinh dịch bình thường, huyết thanh ASAB (+), tinh dịch ASAB (+). Bệnh nhân tự kể có tiền sử viêm tuyến tiền liệt mạn tính, lúc nào cũng tiểu cuối có dịch trắng, tiểu nhiều, tiểu gấp, đau âm đạo và xương mu, đau lưng và xương cụt, miệng khô, vị đắng dính, tiểu vàng, đại tiện khô. Khám: tuyến tiền liệt có đau, thể phospholipid (++), bạch cầu (+++), pH 7.5. Lưỡi đỏ, lớp vàng rễ bết dày, mạch huyền trượt kèm số. Điều trị bằng hóa thấp trọc, giải nhiệt độc. Dùng phương chuyển âm sinh tinh 3号 phương điều chỉnh một chút, uống 4 tháng, các triệu chứng biến mất. Khám dịch tuyến tiền liệt: thể phospholipid (+++), bạch cầu ít, tiếp tục điều trị theo phương pháp cũ 2 tháng, vợ mang thai, sinh con trai bình an.
4. Tiêu đàm ứ, thông kinh lạc, thông suốt đạo tinh. Tinh tuy quý ở chỗ giữ chặt, nhưng cũng cần thông thoát thích hợp mới duy trì chức năng sinh lý bình thường của tinh phủ là trữ hay tiết. Nếu thích ngọt, ăn nhiều, sinh ra đàm trọc nội sinh, hoặc tình cảm tổn thương khí trệ, hoặc ngã té tổn thương, hoặc viêm sinh dục mạn tính dai dẳng không khỏi, đều có thể dẫn đến đàm ứ tương giao thành bệnh, tích tụ thành hình, gây ra bệnh tắc nghẽn hoặc không thông suốt tinh đạo. Tinh dịch không thông, tinh mới khó sinh, ngược vào huyết, kích thích sinh kháng thể miễn dịch. Theo lời dạy của Diệp Thiên Sĩ “tinh ứ phải trước tiên lý giải cung điện ô uế”, dùng phương pháp hóa đàm tiêu ứ để điều trị, hơn nữa các vị thuốc này có thể làm giảm tính thấm của mao mạch, giảm tiết viêm, thúc đẩy hấp thu, nâng cao chức năng miễn dịch bị suy yếu và loại bỏ phản ứng miễn dịch có hại đối với tự thân cơ thể. Bệnh nhân kiểu này thường có viêm sinh dục mạn tính hoặc tổn thương gân cốt. Triệu chứng: đau tức ở bụng dưới hoặc bộ phận sinh dục, đau lưng và xương cụt, hoặc có nốt sần ở bìu, hoặc đau khi ấn vào tinh hoàn, lưỡi đỏ thẫm hoặc có khí tím, lớp mỏng trắng, mạch trầm. Điều trị bằng tiêu ứ hóa đàm. Phương dùng chuyển âm sinh tinh 4号 phương (phương tự lập): bán hạ, bối mẫu, huyền sâm, bạch giới tử, thanh bì, trần bì, bồ hoàng (bao), đan sâm, vương bất lưu hành, đương quy, xuyên芎, xuyên sơn giáp (tiên tiên), hải tảo, khun bố mỗi vị 10g, mẫu lệ (tiên tiên) 30g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang.
Ví dụ 4: La M., nam, 30 tuổi. Khám lần đầu ngày 12 tháng 5 năm 1993. Cưới 3 năm không có con, vợ chồng sống chung, quan hệ tình dục bình thường, kiểm tra vợ bình thường. Xét nghiệm tinh dịch: số lượng tinh trùng 34 triệu/ml, tỷ lệ hoạt động 50%, huyết thanh ASAB (+), các chỉ số khác bình thường. Bình thường có cảm giác xuống thấp ở bìu, đau tức ở đầu bìu bên phải, có thể tự khỏi, mệt mỏi dễ phát bệnh, kèm theo đau lưng mệt mỏi, miệng dính không thoải mái. Khám: đầu bìu bên phải hơi to, trơn láng, cứng, có đau; ống dẫn tinh bên phải dày hơn. Lưỡi đỏ thẫm có khí tím, lớp trắng rễ bết. Chứng thuộc đàm thấp trọc ứ nội trệ. Điều trị bằng tiêu đàm ứ, hóa thấp trọc, tán nốt sần bìu. Dùng phương chuyển âm sinh tinh 4号 gia giảm uống 4 tháng, các triệu chứng biến mất. Kiểm tra lại tinh dịch, huyết thanh ASAB đều bình thường. Dặn uống phương cũ để cố định, theo dõi sinh con gái bình an.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]