Nhiễm khuẩn đường ruột do vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây ra, trong điều trị ngoài dùng kháng sinh còn phối hợp điều trị bằng thuốc đặt trực tràng, có thể cải thiện rõ rệt triệu chứng, rút ngắn thời gian điều trị, đạt hiệu quả tốt. Nhiễm khuẩn đường ruột gây tiêu chảy thuộc phạm vi tả, lỵ, hòe, đau bụng trong y học cổ truyền Trung Hoa. Phân biệt chứng trong y học cổ truyền có ngoại cảm và nội thương, hư, thực, hàn, nhiệt. Bài viết này chỉ bàn về điều trị kết hợp Đông – Tây y cho nhiễm khuẩn đường ruột thể thấp nhiệt. 1. Phương pháp điều trị 1.1 Điều trị Đông y Chứng chính: tiêu chảy, phân lỏng hoặc phân có mủ máu, đi ngoài gấp hoặc đi không thoải mái, hậu môn nóng rát, đau bụng, cảm giác muốn đi ngoài nhưng không đi được, sốt nóng, khát nước, tiểu ít, đỏ, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng dính, mạch trơn sốt hoặc nhuyễn sốt. Nguyên tắc điều trị: thanh nhiệt hóa thấp giải độc, hành khí khoan trung giảm đau. Phương thuốc: Bạch Đầu Ông Thang gia giảm, Bạch Đầu Ông 15g, Hoàng Liên 10g, Hoàng Bách 10g, Tần Bì 10g, Cát Căn 10g, Đương Quy 10g, Bạch Thược 10g, Mộc Hương 10g, Băng Lang 10g, Thương Trúc 10g, Bổ Thấp 10g, Sinh Cam Thảo 10g. Trong phương thuốc, Bạch Đầu Ông thanh nhiệt khí phân, lương huyết giải độc; Cát Căn giải cơ thanh nhiệt, thăng dương chỉ tả; Tần Bì thanh can nhiệt, chỉ lỵ nhiệt; Hoàng Liên, Hoàng Bách thanh nhiệt hóa thấp, kiên âm chỉ tả; Đương Quy, Bạch Thược, Cam Thảo hành huyết hoạt dinh, giảm đau tức thời; Mộc Hương, Băng Lang hành khí dẫn trệ; Thương Trúc, Bổ Thấp tán thấp khoan trung. Trường hợp nhiệt nặng thêm ngân hoa, hoàng cầm; trường hợp thấp nặng thêm phục linh, trạch tả, mộc thông, xe tiền tử; trường hợp ăn dư thêm sơn tra, thần khúc; trường hợp thể hư thêm hoàng kỳ, đảng sâm, a giao. Cách dùng thuốc: sắc 1 thang thuốc 2 lần, mỗi lần 100-150ml, sáng và tối mỗi lần 1 lần, nhỏ giọt giữ lại qua đường trực tràng. Dùng ống truyền bỏ đầu kim, đưa vào hậu môn, nhỏ từ từ 30 giọt/phút, giữ lại càng lâu càng tốt. Nước thuốc phải lọc qua vải gạc, tránh cặn thuốc tắc ống truyền. 1.2 Điều trị Tây y (1) Kiểm soát nhiễm trùng: chọn kháng sinh phù hợp dựa trên vi khuẩn gây bệnh. Thông thường dùng ampicillin, trimethoprim-sulfamethoxazole, norfloxacin, v.v. Bù dịch: trường hợp mất nước nhẹ có thể uống dung dịch bù điện giải, mất nước nặng có thể truyền dịch tĩnh mạch. Điều trị sốc, điều chỉnh rối loạn tuần hoàn vi mô, điều chỉnh chứng toan máu, có thể dùng thuốc giãn mạch và thuốc kiềm. Điều trị hỗ trợ đối chứng: nếu số lần tiêu chảy quá nhiều có thể dùng thuốc cầm tiêu chảy, kèm theo suy tim, phù não, sốc phổi, rối loạn đông máu toàn diện, cần điều trị đối chứng sớm. 2. Kinh nghiệm Thể thấp nhiệt nhiễm khuẩn đường ruột là loại phổ biến nhất trong các loại nhiễm khuẩn đường ruột. Thường xảy ra vào cuối hè đầu thu, do ngoại tà thấp nhiệt độc khí xâm nhập vào ruột, ứ đọng ở trung tiêu, thấp nhiệt bốc lên, khí huyết bị chặn, khí huyết và thấp nhiệt độc khí kết hợp thành mủ máu; truyền hóa bất thường gây tiêu chảy; trong ruột có nhiệt thì đi ngoài gấp; thấp nhiệt kết hợp thì đi không thoải mái; thấp nhiệt hạ lưu thì hậu môn nóng rát; thấp nhiệt nội thịnh thì sốt nóng, khát nước, tiểu ít đỏ; lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng dính, mạch trơn sốt đều là dấu hiệu của thấp nhiệt. Thể thấp nhiệt nhiễm khuẩn đường ruột thường gặp ở giai đoạn cấp tính. Giai đoạn hoạt động, tình trạng nghiêm trọng hoặc đỉnh điểm phát triển bệnh, sốt cao không hạ, triệu chứng ngày càng nặng. Điều trị đơn thuần bằng kháng sinh hiệu quả không rõ rệt, nếu theo phân biệt chứng y học cổ truyền là thể thấp nhiệt nhiễm khuẩn đường ruột, có thể dùng điều trị bằng thuốc đặt trực tràng, đạt hiệu quả điều trị tốt. Bạch Đầu Ông, Hoàng Liên, Hoàng Bách theo nghiên cứu hiện đại có tác dụng kháng khuẩn rộng rãi. Có thể ức chế các vi khuẩn như trực khuẩn lỵ, trực khuẩn đại tràng, trực khuẩn bacillus, trực khuẩn xanh, thương hàn, phó thương hàn, dịch hạch, thể amip. Bạch Đầu Ông có tác dụng co thắt niêm mạc ruột, do đó có thể cầm tiêu chảy, cầm máu, phối hợp với các vị thuốc khác có thể cải thiện rõ rệt triệu chứng, kết hợp điều trị Tây y có thể tăng cường hiệu quả kháng khuẩn, giúp giảm triệu chứng lâm sàng. Mục đích của thuốc đặt trực tràng bằng thuốc Đông y có hai: thứ nhất, thuốc có thể đạt đến tổn thương trực tiếp ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong ruột; thứ hai, thuốc đặt trực tràng có thể loại bỏ vi khuẩn và sản phẩm chuyển hóa, chất độc hại trong ruột, giảm tổn thương niêm mạc ruột, phục hồi chức năng ruột kết và duy trì môi trường nội bộ bình thường. Phương pháp đặt thuốc Đông y có phạm vi áp dụng rộng, nhưng cũng có các chống chỉ định nghiêm ngặt, như bệnh trĩ nặng, suy kiệt quá mức hoặc mắc bệnh tim nặng, bệnh nhân có chảy máu ruột đều nên tránh dùng. Bệnh nhân bị tắc ruột do ung thư ruột kết, ung thư trực tràng, cần dùng dưới sự giám sát chặt chẽ của bác sĩ.
|