A Đào là loại dược liệu bổ dưỡng mạnh mẽ, thuộc loại “sinh mệnh hữu tình” (vật sống có tình cảm), có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các vị thuốc khác chế thành thang, thực dưỡng, cao, dịch hoặc thuốc hoàn. A Đào 50g, Mạc Dược 25g, Nhũ Hương 25g, Sơn Giáp 30g, Giáng Hương 25g, Bạch Cây 75g, Tam Thất 35g, Lộc Giáp 50g, Nguyên Hồ 50g, Đàn Hương 30g, Thần Khúc 100g, Gà Nội Kim 100g, Cửu Hương Thủy 20g. Làm thành tán, mỗi lần dùng 10g, pha với nước gạo, ngày uống 2–3 lần. Chỉ định: Loét dạ dày tái phát, lâu khỏi. A Đào 20g, Uất Kim Tấu, Bạch Thược, Địa Hoàng mỗi vị 10g, Đương Quy, Xuyên Khung, Cam Thảo mỗi vị 5g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Áp dụng cho tiền triệu chứng sảy thai (ra huyết thai, đau bụng). A Đào 15g, Địa Du 10g, Bạch Mao Căn 10g, sắc nước uống. Áp dụng cho tiểu ra máu kéo dài không khỏi. A Đào 15g, Bạch Cây, Tam Thất mỗi vị 10g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Áp dụng cho nôn ra máu. A Đào 15g, Hồng Sâm 5g, Chu Sa 0,6g, trước tiên hòa tan A Đào, sau đó sắc hồng sâm, cuối cùng rót Chu Sa vào, ngày 1 thang. Áp dụng cho người già huyết hư tim đập nhanh. A Đào 15g, Tử Châu Thảo 10g, Địa Du 12g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Áp dụng cho phụ nữ đại tiện ra máu nhiều, chóng mặt, mắt hoa, thể trạng gầy yếu. A Đào, Hắc Bồ Hoàng mỗi vị 15g, Sinh Địa 20g, Tắc Bách Tấu 10g, sắc nước uống. Áp dụng cho các loại xuất huyết. A Đào 15g, Tảo Liên Thảo 10g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Áp dụng cho phụ nữ băng kinh. A Đào 15g, Sinh Sâm 10g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Có hiệu quả rõ rệt đối với lao hư ho ra máu. A Đào 20g, Mã Đẩu Linh, Ngưu Bang Tử, Tinh Nhân, Chích Cam Thảo mỗi vị 10g, sắc nước uống, ngày 1 thang. Áp dụng cho ho, khó thở, hoặc đờm có máu. A Đào Chu 10g (hòa tan), Sinh Địa 120g, Tiên Linh Bì 20g, Tang Ký Sinh 30g, Chích Cam Thảo 10g, Quế Chi 10g, Phục Thần 10g, Hoàng Kỳ 20g, Chân Châu Mẫu 15g, Mai Đông 10g, Xuyên Khung 10g, Trần Bì 10g. Sắc nước uống, ngày 1 thang, chia làm 2 lần uống sáng – chiều. Bổ thận cường tâm. Chỉ định: Rối loạn nhịp thất thường, ngực bí, ù tai, tứ chi mệt mỏi, miệng khô, lưỡi đỏ, lớp lưỡi trắng, mạch trầm và gián đoạn. Thông thường chỉ cần dùng 3–5 thang là kiểm soát được bệnh.
|