Viêm túi mật và sỏi túi mật là hai bệnh độc lập, nhưng thường ảnh hưởng lẫn nhau, tồn tại đồng thời, biểu hiện lâm sàng đều đặc trưng bởi đau vùng thượng vị, phòng ngừa và điều trị có nhiều điểm giống nhau, nên được bàn luận chung. Viêm túi mật chia thành cấp tính và mạn tính, nếu điều trị không kịp thời viêm túi mật cấp tính có thể chuyển thành mạn tính, còn viêm túi mật mạn tính thường xuất hiện dưới dạng đợt cấp. Cả viêm túi mật cấp tính hay mạn tính đều có thể đi kèm sỏi túi mật, còn sỏi túi mật có thể gây tắc nghẽn đường mật, dẫn đến nhiễm trùng túi mật trên nền tích tụ mật. Bệnh này thuộc phạm vi "Kết hòe", "Tắc sườn", "Hoàng đản", "Bí hoàng" trong Đông y. Phòng bệnh trước khi mắc bệnh Duy trì tâm trạng thoải mái, tránh lo âu buồn bực là điều kiện tiên quyết để phòng bệnh. Theo quan sát lâm sàng, phần lớn bệnh nhân trước khi mắc bệnh đều có tiền sử tình cảm không thoải mái. Ăn uống điều độ, tránh ăn nhiều đồ béo, ngọt, thức ăn lạnh. Ăn nhiều rau củ, trái cây tươi và thực phẩm giàu dinh dưỡng, dễ tiêu. Khi bị ký sinh trùng đường ruột, đặc biệt là giun đũa, cần điều trị tích cực để tránh nhiễm ngược. Điều trị triệt để viêm nhiễm các cơ quan lân cận, tránh viêm nhiễm lan sang đường mật. Phụ nữ trung niên và người béo phì cần tăng cường luyện tập thể dục, giảm cân hợp lý, nâng cao sức khỏe, phòng ngừa từ sớm. Chữa bệnh đã mắc Sau khi mắc bệnh, ngoài đau vùng thượng vị, vấn đề chính là ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa, biểu hiện là kém ăn, v.v. Nếu kéo dài, thể trạng suy giảm, thậm chí do sỏi kẹt gây đau bụng do sỏi, một tình trạng nguy hiểm, vì vậy cần điều trị sớm và triệt để. Người đã mắc bệnh cần tuân thủ các biện pháp phòng bệnh nói trên, đồng thời tích cực dùng thuốc điều trị. Khi bị viêm túi mật cấp tính, cần điều trị triệt để; sau khi triệu chứng lâm sàng biến mất, vẫn cần duy trì dùng thuốc thêm một tuần để tránh bệnh kéo dài. (1) Điều trị bằng Đông y 1. Đau vùng thượng vị từng cơn, đầy bụng, ợ hơi thường xuyên, kém ăn, lưỡi hồng nhạt, lớp lưỡi mỏng trắng, mạch huyền, chứng do can khí uất kết, nên thư can giải uất, lợi mật chỉ đau. Phương dùng Thanh Tẩn Thang gia giảm: Sài hồ 10g, Hoàng liên 10g, Bán hạ 10g, Chi xác 10g, Dụ kim 10g, Nguyên hồ 10g, Xuyên liên tử 10g, Mộc hương 10g, Bạch thược 15g, Sinh đại hoàng 10g (sắc sau). 2. Đau vùng thượng vị nặng, đau rõ, sốt rét, miệng đắng họng khô, buồn nôn nôn, không muốn ăn, da vàng, táo bón, tiểu đỏ, lưỡi đỏ, lớp lưỡi vàng nhờn, mạch huyền trơn số, chứng do thấp nhiệt uất kết, can đởm nhiệt thịnh, nên thanh lợi thấp nhiệt. Phương dùng Thanh Tẩn Lợi Thấp Thang: Sài hồ 10g, Hoàng liên 10g, Bán hạ 10g, Mộc hương 10g, Dụ kim 10g, Xe tiền tử 10g, Mộc thông 10g, Sơn chi 10g, Long đởm thảo 10g, Nhân trần 15g, Sinh đại hoàng 12g (sắc sau). 3. Đau vùng thượng vị liên tục dữ dội, đau rõ, phản ứng đau rõ, sốt cao không hạ hoặc sốt rét xen kẽ, toàn thân vàng, táo bón, tiểu ngắn đỏ, màu đậm như trà, lưỡi đỏ thẫm, lớp lưỡi vàng thô hoặc có gai, mạch trơn số hoặc trầm tế. Có thể kèm theo hôn mê, nói mê, tứ chi lạnh, chứng do thấp nhiệt hóa hỏa, nhiệt độc xâm nhập sâu, nên thư can lý khí, thông lợi thấp nhiệt, thanh nhiệt giải độc. Phương dùng Thanh Tẩn Tả Hỏa Thang gia giảm: Sài hồ 15g, Hoàng cầm 15g, Hổ trượng 15g, Bán hạ 10g, Sơn chi 10g, Mộc hương 10g, Dụ kim 10g, Nhân trần 30g, Long đởm thảo 15g, Sinh đại hoàng 10g (sắc sau), Mang tiêu 10g (dùng hòa). (2) Phương pháp “Tổng công” Phương pháp này là phương pháp kết hợp Đông – Tây y, ví dụ minh họa như sau: Thang bài thuốc tán sỏi túi mật: Kim tiền thảo 30g, Nhân trần 30g, Hải kim sa 30g, Dụ kim 15g, Chi xác 12g, Mộc hương 12g, Đại hoàng 10–15g (sắc sau), Chi tử 10g, Mang tiêu 10g (dùng hòa). Chương trình tổng công: Tổng công 2–3 lần mỗi tuần, 6–7 lần là một liệu trình. Ví dụ về thời gian và biện pháp điều trị: Phương pháp này là phương pháp kết hợp Đông y, là cách điều trị tốt nhất cho sỏi đường mật. Những trường hợp sỏi có đường kính ngang không vượt quá 1cm, đường kính không quá 3cm, phần lớn bệnh nhân đều có thể bài sỏi. Ví dụ minh họa: Thời gian |