Thuốc giảm ho, hóa đàm Thuốc giảm ho, hóa đàm là những vị thuốc có thể làm giảm hoặc loại bỏ triệu chứng ho, đàm, dùng cho các chứng ho, đàm, khí suyễn. ① Cát cánh Cát cánh là rễ của cây Cát cánh thuộc họ Cát cánh, chứa saponin Cát cánh, phytosterol, axit Cát cánh... Trong đó saponin Cát cánh có thể kích thích niêm mạc, gây tăng tiết niêm mạc, làm loãng đàm, thúc đẩy bài xuất đàm; đồng thời saponin còn có tác dụng giảm ho, an thần và hạ sốt; ngoài ra, Cát cánh còn có tác dụng kháng viêm, do đó khi phối hợp với các vị thuốc khác để điều trị đau họng, ho do cảm lạnh, viêm đường hô hấp như viêm phế quản, viêm phổi đều đạt hiệu quả tốt. Theo y học cổ truyền, vị tính bình, vị đắng, cay, công năng khai tuyên phế khí, trừ đàm, tán độc, dùng cho chứng phong hàn ngoại cảm, đau họng, phổi úng, ho khạc ra máu, đau bụng do đàm. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram, người ho khan không đàm thì không dùng. ② Xuyên Bách bộ Xuyên Bách bộ là củ hành của các loài cây Bách bộ cuộn lá, Bách bộ hoa đen và Bách bộ góc, chứa nhiều alkaloid; tổng alkaloid và phần không alkaloid đều có tác dụng giảm ho, hóa đàm, do đó được dùng rộng rãi để điều trị viêm phế quản cấp và mạn tính, nhiễm trùng đường hô hấp trên và ho do lao, đặc biệt hiệu quả với trường hợp nhiễm trùng đường hô hấp trên đã kiểm soát nhưng vẫn ho, khạc đàm khó khăn, dùng bột Xuyên Bách bộ hoặc viên Xuyên Bách bộ sẽ tốt hơn. Theo y học cổ truyền, vị tính lạnh, vị ngọt, đắng, công năng chỉ khái hóa đàm, thanh nhiệt tán kết, dùng cho ho do hư lao, khạc đàm ra máu, tâm ngực ứ trệ, viêm họng, phế liệt, lao hạch, nhũ ung. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram, có thể nghiền thành bột mịn, pha với thuốc uống, mỗi lần 0,5–1,5 gram. ③ Mã Đậu Linh Mã Đậu Linh là quả của cây Mã Đậu Linh thuộc họ Mã Đậu Linh, chứa alkaloid Mã Đậu Linh, magnolinal, axit Mã Đậu Linh... Nghiên cứu chứng minh Mã Đậu Linh có tác dụng kháng khuẩn, ức chế các vi khuẩn thường gặp gây nhiễm trùng đường hô hấp; dịch sắc có tác dụng hóa đàm và giãn cơ trơn; axit Mã Đậu Linh còn có tác dụng chống ung thư, chống nhiễm trùng và tăng cường hoạt tính tế bào thực bào; ngoài ra, Mã Đậu Linh còn có tác dụng hạ huyết áp nhẹ và kéo dài. Theo y học cổ truyền, vị tính lạnh, vị đắng, hơi cay, công năng thanh phổi hóa đàm, chỉ khái bình phế, dùng cho ho do phổi nhiệt, đàm trọc khí suyễn, ho lâu do phổi hư, khạc ra máu, mất tiếng, đau lòi dom. Lượng dùng: thông thường 3–6 gram. ④ Bán Hạ Bán Hạ là củ thân rễ của cây Bán Hạ thuộc họ Thiên Nam Tinh, chứa dầu bay hơi, alkaloid, nhiều acid amin, sterol thực vật và glycosid; nghiên cứu dược lý chứng minh Bán Hạ có tác dụng giảm ho rõ rệt, giảm nôn, trong khi Bán Hạ sống lại có tác dụng gây nôn, vì vậy thường dùng Bán Hạ chế để điều trị viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản và các chứng nôn do nhiều nguyên nhân khác nhau; ngoài ra, Bán Hạ còn có hoạt tính chống ung thư rõ rệt, có thể dùng để điều trị ung thư cổ tử cung, ung thư da. Theo y học cổ truyền, vị tính ấm, vị cay, có độc, công năng trừ ẩm hóa đàm, giáng nghịch chỉ nôn, tiêu u tán kết, dùng cho ho khí nghịch, đàm dồn, đầy tức ngực, đau bụng, u bướu, lao hạch, ung nhọt. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram. Người âm hư huyết thiểu, thiếu dịch, lưỡi đỏ không lưỡi, phụ nữ cuối thai kỳ tuyệt đối không dùng, vì Bán Hạ có độc, phải qua chế biến mới dùng được. ⑤ Bách Bộ Bách Bộ là rễ củ của các loài cây Bách Bộ mọc lan, Bách Bộ đối diệp và Bách Bộ lập, chứa nhiều alkaloid; các alkaloid này có tác dụng giãn cơ trơn phế quản, làm giảm tính hưng phấn của trung khu hô hấp ở động vật, ức chế phản xạ ho, do đó có tác dụng giảm ho; thực nghiệm chứng minh dịch sắc Bách Bộ có tác dụng ức chế nhiều vi khuẩn gây bệnh và nấm da; đối với một số virus cúm cũng có tác dụng ức chế; ngoài ra, Bách Bộ còn có tác dụng diệt trứng muỗi, ve, rận và bọ chét. Theo y học cổ truyền, vị tính bình, vị ngọt, cay, công năng nhuận phế chỉ khái, diệt ký sinh trùng, dùng cho ho do phong hàn, ho hàng ngày, ho suyễn người già, bệnh giun đũa, dùng ngoài để diệt rận. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram; dùng ngoài tùy ý; nhưng người kém tiêu hóa, tiêu chảy thì không nên dùng. ⑥ Tiền Hồ Tiền Hồ là rễ của cây Tiền Hồ trắng và Tiền Hồ tím thuộc họ Cúc, chứa dầu bay hơi và nhiều hợp chất lactone tương tự nhau; Tiền Hồ tím chứa dầu bay hơi, hợp chất furanocoumarin và mannitol; thử nghiệm dược lý chứng minh dịch sắc Tiền Hồ có khả năng tăng tiết dịch đường hô hấp, do đó có tác dụng hóa đàm; dịch sắc Tiền Hồ có thể ức chế virus cúm, các hợp chất lactone trong Tiền Hồ đều có tác dụng chống vi khuẩn gây bệnh và chống nấm da. Theo y học cổ truyền, vị tính lạnh, vị đắng, cay, công năng sơ phong thanh nhiệt, giáng khí hóa đàm, dùng cho đau đầu do phong nhiệt, ho đàm nhiệt, nôn mửa, tức ngực đầy bụng. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram. Khổ sâm là hoa búp của cây Khổ sâm thuộc họ Cúc, chứa dầu bay hơi, dipentyl, glycosid thơm và sterol thực vật; thử nghiệm dược lý chứng minh dịch sắc Khổ sâm có tác dụng giảm ho rõ rệt, hóa đàm và một mức độ nhất định là bình phế. Theo y học cổ truyền, vị tính ấm, vị cay, công năng nhuận phế giáng khí, chỉ khái hóa đàm, dùng cho ho mới và cũ, thở gấp, đàm có máu. Lượng dùng: thông thường 3–9 gram, nhưng người ho do nhiệt thì tránh dùng. ⑧ Tử Tấn Tử Tấn là rễ và thân rễ của cây Tử Tấn thuộc họ Cúc, chứa saponin Tử Tấn, keton Tử Tấn và dầu bay hơi; thử nghiệm dược lý chứng minh dịch sắc Tử Tấn có tác dụng giảm ho, hóa đàm; Tử Tấn ức chế vi khuẩn đại tràng, vi khuẩn thương hàn ở mức độ khác nhau. Theo y học cổ truyền, vị tính ấm nhẹ, vị ngọt, đắng, công năng chỉ khái hóa đàm, định suyễn, giải nhiệt, dùng cho ho do phong hàn, suyễn, ho do hư lao, khạc ra máu, viêm họng, tiểu không thông. Lượng dùng: 3–9 gram. ⑨ Đơn Dược Tử Đơn Dược Tử là hạt của cây Đơn Dược thuộc họ Cúc, chứa dầu béo, protein, đường, glycosid mustard, ngoài ra còn có sterol và glycosid tim; có thể làm tăng co bóp tim, giảm nhịp tim, đối với tim suy, có thể tăng lượng máu đưa ra, giảm áp lực tĩnh mạch. Theo y học cổ truyền, vị tính lạnh, vị cay, đắng, công năng giáng khí hành thủy, dùng cho chứng phổi trướng, thở gấp, ho đàm, phù thũng, đầy bụng. Lượng dùng: 3–9 gram.
|