Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Phẫu thuật / Chữa trĩ / Bài thuốc dân gian, bí phương chữa trĩBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Bài thuốc dân gian, bí phương chữa trĩ

Khi trĩ phát bệnh, thường thấy đau tức hậu môn, hoặc cục trĩ sưng đỏ đau dữ dội, hoặc chảy máu khi đi đại tiện, kèm theo táo bón, tiểu đỏ, môi khô miệng khát... biểu hiện nhiệt chứng. Nguyên nhân bệnh đa phần do tích tụ thấp nhiệt từ trước, ăn nhiều đồ nướng xào, cay nóng, hoặc uống rượu quá mức dẫn đến thấp nhiệt nội đình, thấp nhiệt ứ trệ khiến trĩ phát sinh. Các bài thuốc dân gian thường dùng gồm:
[Phương 1] Khuê công anh, hoàng bá, xích thảo, đan bì mỗi vị 30g, đào nhân 20g, thổ phục linh 30g, bạch chỉ 15g. Sắc nước ngoài dùng, mỗi ngày 1 thang, dùng 2–3 lần. Trước tiên cho 2500–3500ml nước, đun sôi rồi lọc bỏ bã, đổ nước thuốc vào chậu thông thường, bệnh nhân dùng hơi nóng để xông trước, sau đó rửa, mỗi lần 15–30 phút. Phương này do Tôn Đào Sinh lập, công năng thanh nhiệt giải độc, trừ thấp tiêu thũng, lương huyết tán ứ, thích hợp với trĩ.
[Phương 2] Lưu hoàng, hùng hoàng mỗi vị 10g, trương não 3g, dầu mè lượng vừa đủ. Hai vị thuốc trước nghiền thành bột mịn, trộn đều với dầu mè, bôi vào chỗ bệnh. Phương này thích hợp với trĩ do thấp nhiệt gây ra.
[Phương 3] Ô mai, ngũ bội tử mỗi vị 10g, khổ sâm 15g, xạ can, bạo sơn giáp mỗi vị 10g, thạch toản 30g, hỏa mễ nhân 10g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, uống 2 lần. Phương này do Lăng Triêu Quang lập, công năng thanh nhiệt giải độc, nhuận tràng thông tiện, thích hợp với trĩ.
[Phương 4] Phù bình lượng vừa đủ. Sắc nước, dùng nóng để lau rửa chỗ bệnh. Phương này thích hợp với trường hợp trĩ bị trầy xước, chảy máu nhưng không rỉ nước.
[Phương 5] Hoài hoa, địa du mỗi vị 10g, tiên hạc thảo, hạn liên thảo, tế bạch diệp mỗi vị 15g, tri sương 10g, hoàng cầm 5g, hồ ma nhân 15g, lặc lai hiến 30g. Sắc uống, mỗi ngày 1 thang, uống 2 lần. Ngoài ra, có thể dùng nước sắc để xông rửa hậu môn. Phương này do Hoàng Hồng Khôn lập, công năng thanh tràng lợi thấp, cầm máu, thích hợp với trĩ.
[Phương 6] Lá sồi 30g. Dùng máy nghiền nát, đắp lên chỗ bệnh. Phương này trích từ "Sổ tay thảo dược thường dùng tỉnh Hắc Long Giang", thích hợp với trĩ.
[Phương 7] Lưu ký lao, ngũ bội tử mỗi vị bằng nhau. Nghiền thành bột mịn, uống lúc bụng đói với rượu, đồng thời dùng bột này đắp lên chỗ bệnh, bệnh sẽ khỏi. Phương này trích từ "Lục biên Chu thị tập nghiệm phương", chữa trĩ.
[Phương 8] Vỏ đậu phụ sống, sao khô thành bột, mỗi lần uống 9g, dùng nước đường trắng pha loãng, ngày uống 3 lần. Phương này trích từ "Uy thị phương", thích hợp với trĩ ra máu.
[Phương 9] Bí ngô, đốt thành tro, nghiền thành bột, uống 6g với rượu mỗi lần. Phương này chủ trị trĩ lâu năm.
[Phương 10] Hạt nam mi 10g. Đun với nước, dùng nóng để xông hậu môn, mỗi ngày ít nhất 2 lần, xông liên tục vài ngày là khỏi. Trong thời gian xông thuốc, phải kiêng ăn các thực phẩm kích thích như cá.
[Phương 11] Đường đỏ 100g, kim tiền thảo 120g. Kim tiền thảo dùng 2 chén nước sắc còn 1 chén, thêm đường đỏ, uống ấm, mỗi ngày 1 lần. Phương này hoạt huyết tiêu thũng, thích hợp với trĩ mới khởi phát.
[Phương 12] Chúc sa 15g, thảo quyết minh 20g, thạch toản nung, mã bộc, hoàng bá mỗi vị 15g, cam thảo 6g. Bọc mã bộc và các vị thuốc khác vào vải, sắc cùng nhau 30 phút, bỏ bã lấy nước uống, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần khoảng 160ml. Phương này do bác sĩ Đông y Bành Hiển Quang lập, công năng thanh nhiệt giải độc, hoạt huyết cầm máu, mềm cứng thu hẹp, giảm sưng đau, hiệu quả trong việc loại bỏ trĩ.
[Phương 13] Minh ngân 15g, hoàng liên 10g, a-xít tanin 0,7g, procain 5g, glyxerol 100ml, nước tiêm thích hợp để pha thành 1000ml. Hoàng liên được chiết xuất bằng nước cất hai lần, hòa trộn hai lần lọc, cô đặc sao cho mỗi ml tương đương 2g dược liệu sống, thêm ethanol 95% để kết tủa 24 giờ, lọc bỏ bã, loại bỏ cồn, thêm nước tiêm thích hợp để hòa tan, đun gần sôi rồi lọc, sau đó lọc lại dung dịch, thêm minh ngân, a-xít tanin, procain và glyxerol, hòa tan, thêm nước tiêm thích hợp để đạt thể tích 1000ml, thêm than hoạt tính 0,3%, đun gần sôi, để nguội nhẹ rồi lọc tinh, đóng chai, tiệt trùng ở 100℃ trong 30 phút, kiểm tra đèn, nuôi cấy vi khuẩn đạt chuẩn mới dùng. Phương này do bác sĩ Đông y nổi tiếng tỉnh Giang Tô Đinh Trạch Dân lập, công năng làm xơ hóa và teo nhỏ búi trĩ, đồng thời có tác dụng cầm máu, thích hợp với tất cả các giai đoạn trĩ, trĩ hỗn hợp, phần trĩ nội.
[Phương 14] Cà chua. Cắt lát, đốt thành tro, nghiền thành bột mịn. Mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 10g, liên tục uống 10 ngày. Phương này thanh nhiệt cầm máu, thích hợp với trĩ nội.
[Phương 15] Mộc nhĩ đen 30g. Rửa sạch, loại bỏ tạp chất, thêm một chút nước, đun nhỏ lửa thành cháo, ăn. Phương này bổ khí, lương huyết, cầm máu, thích hợp với người bị trĩ nội và trĩ ngoại.
[Phương 16] Gan thỏ nước 1 bộ, thịt heo nạc 200g, lòng trắng trứng 1 quả, hạt tiêu, muối, rượu gạo, bột bắp, bột tiêu, mỡ heo, lát gừng, lát hành lượng vừa đủ. Gan thỏ rửa sạch thái hạt, thịt heo nạc rửa sạch thái hạt, cho vào bát, thêm lòng trắng trứng, bột bắp trộn đều, luộc sơ qua nước sôi, vớt ra, cho vào nồi, thêm nước dùng, muối, rượu gạo, gừng, hành, đậy nắp, hấp cách thủy 30 phút. Đun nóng chảo, cho mỡ heo, khi dầu đạt độ 4 thành, cho rượu gạo vào, thêm nước dùng, nước dùng nguyên bản, mỡ heo, hạt tiêu, đường, muối, gan thỏ đã hấp, thịt heo hạt, đảo đều, khi chín, bỏ gừng, hành, múc ra bát. Gan thỏ là gan của thỏ nước, tính vị ngọt mặn, có công năng dưỡng âm, trừ nhiệt, an thần, cầm máu. Theo "Bản thảo đồ kinh" nói: "chủ (thể hư mất sức), lao cực, tứ tạng hàn sốt rét, hư hàn, khách nhiệt, cũng chủ sản lao". Theo "Ẩm thiện chính yếu" nói: "trị trường phong hạ huyết". Thịt heo nạc bổ âm, nhuận táo, hai thứ kết hợp có công năng an thần cầm máu, dưỡng âm trừ nhiệt. Phù hợp với người bị trĩ lâu ngày chảy máu không ngừng, ho do âm hư, lao tổn. Người khỏe mạnh ăn sẽ có tác dụng minh mục.
[Phương 17] Cầy hương 1 con (khoảng 1000g), sợi bào ngư, sợi nấm đông cô mỗi loại 150g, sợi măng đông, sợi gà sống mỗi loại 100g, sợi lợn xông khói 20g, sợi nấm mèo 50g, sợi gừng, sợi trần bì mỗi loại 20g, sợi kỷ tử 10g, trần bì, gừng, hạt tiêu, đường, bột tiêu, muối, nước dùng, mỡ heo. Cầy hương giết mổ, ngâm nước nóng để lông bong ra, mở bụng lấy nội tạng, dùng lửa hơ để loại bỏ lông nhỏ, rửa sạch, chặt đôi, cho vào nồi nước sôi luộc chín, rửa sạch, cho vào nồi, thêm nước, lát gừng, trần bì, hầm nhừ, vớt ra, tách xương, thái thành sợi, cho vào chén, thêm nước hầm nguyên bản, đậy nắp, hấp cách thủy đến chín. Sợi gà, sợi bào ngư, nấm mèo, nấm đông cô, măng đông cho vào nước sôi luộc chín, vớt ra, lại dùng dầu, rượu, nước sôi hầm qua một chút, vớt ra. Đun nóng chảo, cho mỡ heo, khi dầu đạt độ 4 thành, cho rượu gạo vào, thêm nước dùng, nước hầm nguyên bản, mỡ heo, hạt tiêu, đường, muối, sợi cầy hương và các sợi khác (không kể sợi lợn xông khói), đun sôi, dùng bột bắp pha loãng để tạo sốt, múc ra bát, rắc bột tiêu, sợi lợn xông khói là xong. Dùng kèm bữa ăn. Cầy hương còn gọi là báo lý, mèo rừng, mèo cầy. Tính vị ngọt bình, có thể chữa trường phong hạ huyết, trĩ lộ, lậu, du phong. Theo "Thiên kim thực trị" nói: "bổ trung ích khí". Theo "Thục bản thảo" nói: "trị thủng chuột". Phù hợp với các chứng như lao hạch cổ, trĩ chảy máu, đau sa trực tràng.
[Phương 18] Bánh hồng 50g, nấm mèo 60g, đường, bột bắp lượng vừa đủ. Bánh hồng bỏ cuống, cắt thành hạt, nấm mèo ngâm nước cho nở, xé nhỏ. Cho bánh hồng hạt, nấm mèo vụn vào nồi, thêm nước vừa đủ, đun sôi một thời gian, dùng bột bắp pha loãng, thêm đường trộn đều, đun sôi lại, múc ra bát. Bánh hồng là quả hồng đã qua chế biến. Tính vị ngọt chát, lạnh, có công năng thu liễm ruột, nhuận phổi, cầm máu, hòa vị. Theo "Bản thảo cương mục" ghi: "có công năng kiện tỳ thu liễm, trị huyết, cầm máu". Theo "Bản thảo thông huyền" nhận định: "chỉ vị nhiệt miệng khô, nhuận tâm phế, tiêu đàm, trị huyết lâm, tiện huyết". Kết hợp với nấm mèo có công năng hoạt huyết, cầm máu, bổ khí cường thân, thường dùng để điều trị nôn ra máu, ho ra máu, huyết lâm, viêm ruột, tiêu chảy, trĩ lộ.
[Phương 19] Cá chép 500g, rượu gạo, hành trắng, gừng tươi, muối ăn, dầu thực vật lượng vừa đủ. Cá chép bỏ xương, nội tạng, rửa sạch, cắt khúc dài khoảng 1 phân. Cho dầu thực vật vào chảo, đun đến độ 7 thành nóng, cho cá chép, hành trắng, gừng vào xào, thêm nước, rượu gạo, muối, hầm nhỏ lửa đến chín. Dùng kèm bữa ăn. Sản phẩm này có công năng bổ hư tổn, cầm máu đại tiện. Phù hợp với thể hư tổn, suy nhược, sau sinh thể hư, chảy máu trĩ, tiêu chảy ra mủ máu. Phương này trích từ "Dân tiện thực liệu", tên phương do người sau bổ sung, ban đầu dùng để "chảy máu trĩ nội", là phương bổ hư tổn, cầm máu đại tiện. Bệnh lâu ngày thể hư, khí huyết suy kiệt, tạng phủ tổn thương thì thấy thể hư tổn, pháp nên bổ dưỡng; mạch mao quản đại tràng bị tổn thương, huyết không tuân theo kinh lạc thì thấy chảy máu đại tiện, pháp nên cầm máu. Phương này trọng dụng cá chép một vị, vừa bổ hư tổn, vừa cầm máu đại tiện, vì vậy phù hợp với thể hư tổn và chảy máu đại tiện. Khi nấu cá chép, thường dùng bột tiêu. Nhưng phương này dùng để cầm máu đại tiện, không nên dùng bột tiêu.
[Trĩ]

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]