Ngũ Lăng Tán 【Nguồn】"Sản Hươn Luận". 【Tên khác】Chuỳ linh tán (trong "Đại Bình Thánh Huệ Phương" quyển cửu), Ngũ Lăng Thang (trong "Tuyên Minh Luận Phương" quyển ngũ). 【Thành phần】Chuỳ linh 10g (bỏ vỏ), Trạch tả 15g, Bạch truật 10g, Phục linh 10g, Quế chi 7g (bỏ vỏ) 【Cách dùng】Năm vị thuốc trên nghiền thành bột. Dùng nước trắng hòa uống 3g, ngày uống 3 lần. Uống nhiều nước ấm, ra mồ hôi thì khỏi. 【Công năng】Lợi thủy tiêu thấp, ôn dương hóa khí. 【Chỉ định】Bệnh bên ngoài có biểu chứng, nội tại đọng thấp, đau đầu sốt nhẹ, khát nước, hoặc uống nước là nôn, tiểu không thông, phù thũng do thấp thủy nội đình, tiêu chảy, tiểu không thông, cũng như chứng đảo hoạn, đau đầu, sốt, thân đau, nhiệt nhiều muốn uống nước, đàm ẩm, cảm giác rung động dưới rốn, nôn dãi mà chóng mặt hoặc tức ngực ho khan. Hiện nay dùng cho viêm thận, phù do tim, bụng đầy do xơ gan, bí tiểu, viêm ruột cấp tính, thuộc loại thấp thủy nội đình. 【Lý luận phương】Trong phương, Chuỳ linh, Phục linh, Trạch tả thanh lợi thấp, Bạch truật kiện tỳ trừ thấp, Quế chi giải biểu hóa khí. Năm vị phối hợp, khiến thủy hành khí hóa, biểu giải tỳ kiện, các chứng do tích thủy, đàm ẩm tự tiêu. 【Nghiên cứu thực nghiệm】Tác dụng lợi tiểu: "Tạp chí tóm tắt luận văn hội nghị học thuật Hội Dược học Trung Quốc năm 1962", 1963: 327–328. Nghiền bột Ngũ Lăng Tán (Chuỳ linh 18g, Trạch tả 30g, Phục linh 18g, Quế chi 12g, Bạch truật 18g), chế thành dịch chiết 1:1 bằng cồn 50%. Đồng thời chế riêng từng vị thuốc theo phương pháp trên thành dịch chiết 1:1, quan sát tác dụng lợi tiểu của Ngũ Lăng Tán và các vị thuốc đơn độc đối với chuột trắng. Kết quả cho thấy: tỷ lệ bài tiết nước tiểu sau khi dùng thuốc trong giờ thứ nhất so với trước khi dùng thuốc đều tăng rõ rệt, trong đó tác dụng của hai vị Chuỳ linh và Quế chi mạnh nhất. Nhóm đối chứng sau khi dùng thuốc hai lần tỷ lệ bài tiết nước tiểu không có sự khác biệt rõ rệt. Giờ thứ hai tỷ lệ bài tiết nước tiểu tăng ít, giờ thứ ba không còn tác dụng lợi tiểu rõ rệt. |