Phân loại theo y học cổ truyền giúp định hướng điều trị theo chứng bệnh. Theo quan điểm y học hiện đại, những bệnh nhân cùng thuộc loại rễ thần kinh hay loại động mạch đốt sống hay loại tủy sống, tuy nhiên do nguyên nhân, triệu chứng và mạch chứng khác nhau nên theo phân loại y học cổ truyền có thể thuộc các loại khác nhau, phương pháp điều trị cũng khác nhau, dùng thuốc cũng không giống nhau. 1. Loại chấn thương: hành khí hoạt huyết, thư giãn gân cơ, giảm đau. Bài thuốc: Gừng vàng 10g, Cam thảo 10g, Tương hoạt 15g, Hải đồng bì 12g, Đương quy 15g, Xích thược 12g, Bạch truật 12g, Thanh tâm thảo 15g, Xuyên khung 12g, Quế chi 10g. Nấu nước uống. Trường hợp đau nặng thêm Nhũ hương, Mô thuốc; trường hợp bệnh lâu, thể trạng yếu thêm Đầu ô, Câu kỷ tử. Nếu bị lạnh sau chấn thương hoặc bệnh cũ tái phát do phong hàn thì dùng Thang ma quế ôn kinh, bài thuốc như sau: Xích thược 12g, Ma hoàng 10g, Quế chi 12g, Hồng hoa 6g, Bạch chỉ 15g, Tế tâm 3g, Đào nhân 12g, Cam thảo 10g. Nấu nước uống. 2. Loại phong hàn thấp, kinh lạc bị chặn: khu phong trừ thấp, ôn kinh hoạt lạc. Bài thuốc: Tương hoạt 10g, Độc hoạt 15g, Hao bản 10g, Phòng phong 15g, Cam thảo 10g, Xuyên khung 12g, Mạn kính tử 10g. Nấu nước uống. Nếu chủ yếu là tê bại hai tay, chứng tỏ khí hư, dùng Thang nhân sâm ích khí, bài thuốc như sau: Hoàng kỳ 20g, Chích cam thảo 10g, Thăng ma 10g, Ngũ vị tử 15g, Sâm hồ 12g, Sinh cam thảo 10g, Nhân sâm 5g, Bạch thược 12g. Nấu nước uống. 3. Loại can thận hư hao, khí huyết thiếu: bổ can thận, ích khí hoạt huyết. Bài thuốc: Độc hoạt 15g, Tỳ giải 15g, Tần giao 10g, Phòng phong 15g, Tế tâm 3g, Đương quy 15g, Bạch thược 12g, Xuyên khung 15g, Địa hoàng 15g, Du trung 12g, Ngưu tất 15g, Đảng sâm 20g, Phục linh 12g, Chích cam thảo 10g, Quế chi 15g. Nấu nước uống. Nếu chứng liệt tứ chi nặng, dùng Thang gia vị Tứ vật, bài thuốc như sau: Đương quy 15g, Thục địa 12g, Bạch thược 10g, Xuyên khung 12g, Ngũ vị tử 10g, Mạch đông 12g, Đảng sâm 20g, Hoàng bá 10g, Hoàng liên 15g, Tri mẫu 10g, Du trung 12g, Ngưu tất 15g, Thương truật 12g, Hoàng kỳ 20g. Nấu nước uống. 4. Loại đàm thấp kết tụ, kinh lạc ứ trệ: lý khí hóa đàm, thông kinh hoạt lạc. Bài thuốc: Gừng bán hạ 6g, Trần bì 10g, Phục linh 12g, Chích cam thảo 10g. Nấu nước uống. Nếu bệnh nhân khí hư, thêm Đảng sâm, Bạch thược, Hoàng kỳ; nếu tê nặng ở chi thể, thêm Phòng phong, Kinh giới, Thiên ma, Tần giao, v.v.; nếu bệnh nhân tê bại tay chân kèm mắt sợ ánh sáng, nhìn mờ, đau mắt khó mở thì dùng Thang thần hiệu Hoàng kỳ, bài thuốc như sau: Mạn kính tử 10g, Trần bì 10g, Nhân sâm 5g, Chích cam thảo 10g, Bạch thược 15g, Hoàng kỳ 20g. Nấu nước uống. 5. Bài thuốc ngoại dụng xông rửa: Bài thuốc: Độc hoạt, Tần giao, Phòng phong, Hương thảo, Thông cốt thảo, Lưu ký la, Tô mộc, Xích thược, Hồng hoa, Giáp châu, Linh tiên, Ô mai, Mộc qua, mỗi vị 9g. Nấu nước, dùng nóng để xông rửa vùng bệnh.
|