Suy thận mạn tính là do nhiều nguyên nhân gây tổn thương thận kéo dài. Khi xuất hiện tình trạng ứ đọng chất chuyển hóa, rối loạn nước, điện giải, cân bằng acid-base và phát sinh các biểu hiện lâm sàng thì gọi là bệnh này. Các biện pháp phòng ngừa và điều trị chính như sau: 1) Điều trị bằng chế độ ăn uống: ① Hoàng kỳ sống 60g, cá chép lớn một con, hầm canh uống. Phù hợp với người già bị bí tiểu. ② Cháo Quế tâm: gạo trắng 60g, nấu cháo, khi cháo gần chín cho thêm bột Quế tâm (5g/ngày). Phù hợp với trường hợp bí tiểu do hạ nguyên hư hàn. ③ Cháo Hạt sen: hạt sen, gạo trắng, nấu cháo ăn. Phù hợp với trường hợp bí tiểu do hạ nguyên hư hàn. ④ Canh Đỗ trọng gan dê (hoặc gan heo): 2 quả gan dê (hoặc heo), Đỗ trọng 15g, muối, gừng, hành, gia vị vừa đủ, trước tiên thái gan, bỏ lớp vỏ màng, cùng Đỗ trọng hầm, cho gia vị vào, hầm chín lấy gan ăn. Phù hợp với trường hợp bí tiểu do hạ nguyên hư hàn. 2) Châm cứu thể châm: Lấy huyệt Thận du, Nội quan, Túc tam lý, Tam âm giao, Thái khê; nếu tiểu ít hoặc bí tiểu, thêm huyệt Trung cực, Quan nguyên, Âm linh泉; buồn nôn, nôn, thêm huyệt Trung quản, đồng thời châm Nội quan; thần trí mê sảng, thêm huyệt Nhân trung, Dũng tuyền; co giật tứ chi, thêm huyệt Dương linh tuyền, Thái xung, Khúc trì. Trường hợp hư chứng nên bổ hỏa. Châm cứu tai: lấy huyệt Bì chất hạ, Thượng thận, Nội tiết, Thận, Tỳ, Bàng quang, có thể châm cứu, cấy chỉ hoặc ấn hạt, mỗi ngày hoặc cách ngày 1 lần. 3) Phương thuốc đơn giản – bài thuốc kinh nghiệm: ① Bổ tử Đại hoàng thang: Bổ tử chế, Đại hoàng sống, Dịch mẫu thảo mỗi thứ 15g, Hoàng kỳ 30g, Mạch tiêu 10g. Nếu phù nặng, thêm Xe tiền tử, Bạch mao căn; nôn rõ rệt, thêm Pháp bán hạ, Trần bì; đầy bụng, tức ngực, thêm Xuyên bối hoa, sắc uống, dùng cho suy thận cấp và mạn tính. ② Đại hoàng, Ô mai mỗi thứ 1,2g, Sinh cam thảo, Bằng sa sơn mỗi thứ 0,6g, Xuyên tiều mục, Giấm gừng, Hoàng liên rang, Ngô thù du mỗi thứ 3g, Sinh bạch thược 5g, Giấm trúc nhự 12g, Tử kim đạn 2 viên (ngậm riêng), sắc uống. Dùng cho trường hợp viêm thận do độc tố urê kèm nôn. ③ Bổ phi 9–30g, Phục linh 15g, Hậu bộc 9g, Bán hạ 9g, Sinh khương 9g, Đảng sâm 15g, Trúc nhự 9g, Hoàng liên 6g, Đại hoàng chế 15–30g, sắc uống, mỗi ngày 1 liều, chia làm 2–3 lần uống, dùng cho chứng độc tố urê. ④ Đại hoàng 60g, Mẫu lệ 30g, sắc lấy nước 200–300ml, dùng để nhỏ giọt giữ trong ruột, mỗi ngày 1–2 lần. Dùng cho chứng độc tố urê. ⑤ Đại hoàng sống 12g, Phụ tử sống 9g, Mẫu lệ 30g, sắc lấy nước, dùng để nhỏ giọt giữ trong ruột. ⑥ Dung dịch Chiết xuất Đan sâm 16–20ml, pha vào 5% glucose 500ml, truyền tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần, 14 ngày là 1 liệu trình. Dùng cho suy thận cấp và mạn tính. ⑦ Dung dịch Chiết xuất Đại hoàng: Đại hoàng sống 50g/100ml, pha vào 10% glucose 400ml, truyền tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần. Dùng cho suy thận cấp và mạn tính. ⑧ Phương pháp đắp ngoài vùng thận: tỏi 240g, Mạch tiêu 60g, trước tiên đắp lên hai vùng thận 2 giờ, tiếp theo dùng Đại hoàng 150g, giấm 200ml, trộn đều, đắp lên hai vùng thận thêm 2 giờ, mỗi ngày 1–2 lần. Để phòng ngừa tổn thương da, trước tiên thoa dung dịch an tức hương lên da vùng thận, rồi phủ một lớp vải gạc vaseline. Dùng cho suy thận cấp. 4) Phòng ngừa và dưỡng sinh: ① Tránh lao động quá sức và kích thích tinh thần mạnh mẽ; ② Phòng ngừa nhiễm trùng, loại bỏ ổ nhiễm trùng để giảm yếu tố gây tiến triển xấu của bệnh; ③ Người nghiện thuốc lá, rượu cần bỏ hẳn; ④ Người có phù, tăng huyết áp, protein niệu rõ rệt hoặc chỉ vận động nhẹ đã thấy triệu chứng nặng hơn thì nên nghỉ ngơi nằm giường. |
|
|---|