Theo y học cổ truyền Trung Hoa, huyết là sản phẩm được chuyển hóa từ thực phẩm và nước nhờ tác dụng của khí, quá trình sinh huyết liên quan mật thiết đến tim, tỳ, vị, thận. Sau khi sinh ra, huyết do tim, tỳ, gan kiềm chế vận hành và lưu trữ; tim sinh huyết, gan tàng huyết, tỳ thống huyết. Mối quan hệ giữa huyết và khí rất mật thiết, không chỉ sinh huyết liên quan đến khí mà vận hành huyết cũng cần sự thúc đẩy của khí. Vì vậy, khí hư thường dẫn đến huyết hư, huyết hư cũng đi kèm khí hư; khi bổ huyết cần chú ý bổ khí. Huyết hư bao gồm các chứng như thiếu máu, thần kinh suy nhược, một số chứng suy nhược, rối loạn kinh nguyệt, biểu hiện như da mặt không tươi hoặc vàng úa, hồi hộp, chóng mặt, khó thở, mệt mỏi, móng tay nhợt nhạt, rối loạn kinh nguyệt, mất ngủ, mê man, đau bụng sau kinh, mạch tế, lưỡi nhợt. Đối với huyết hư, có thể dùng các vị thuốc như đương quy, bạch thược, thục địa, a giao, hà thủ ô, long nhãn, tử hà xe để điều trị; vì khí hư thường đi kèm huyết hư, nên có thể bổ sung thêm một số vị thuốc bổ khí như hoàng kỳ, đảng sâm, cam thảo, giúp tăng hiệu quả bổ huyết. Các phương thuốc bổ huyết phổ biến gồm Tứ vật thang, Đương quy bổ huyết thang, Thập toàn đại bổ thang... Các thuốc đông y bổ huyết thường dùng gồm Đương quy bổ huyết cao, Tang thầm mật cao, A giao bổ huyết cao, Kiện huyết xung tế, Diên niên ích thọ tinh, Dưỡng huyết sinh phát hoàn, Quy sả địa hoàng hoàn... Đương quy bổ huyết cao có công dụng dưỡng huyết ích khí, hoạt huyết điều kinh, chủ trị các chứng do huyết hư, huyết ứ, khí hư gây ra như da mặt vàng úa, chóng mặt mệt mỏi, đau đầu, hồi hộp, mệt mỏi, gầy yếu, rối loạn kinh nguyệt. Mỗi lần 15 gram, ngày 2 lần, dùng nước ấm pha uống. Tang thầm mật cao có công dụng dưỡng huyết nhuận táo, bổ thận gan, chủ trị các chứng do huyết gan hư, âm thận thiếu gây ra như mất ngủ, quên, chóng mặt, mắt mờ, mệt mỏi, tóc bạc sớm, thiếu máu tuổi già, táo bón do ruột khô. Mỗi lần 15–30 gram, ngày 2 lần, dùng nước ấm pha uống. Người có tỳ vị hư hàn, tiêu chảy không dùng. A giao bổ huyết cao có công dụng dưỡng huyết tư âm, bổ trung ích khí, chủ trị các chứng do bệnh lâu ngày thể yếu, huyết hư âm tổn, mắt mờ, nhìn mờ, kinh nguyệt ít, lao tổn ho khan. Mỗi lần 20 ml, ngày 2 lần, dùng nước ấm pha uống. Kiện huyết xung tế có công dụng dưỡng huyết ích khí, phá ứ sinh tân, chủ trị chứng giảm bạch cầu sau xạ trị, hóa trị, hoặc giảm bạch cầu vô căn do nguyên nhân nghề nghiệp. Mỗi lần 15 gram, ngày 3 lần, dùng nước ấm pha uống. Diên niên ích thọ tinh có công dụng bổ tinh huyết, dưỡng gan bổ thận, chủ trị các chứng do tinh huyết, âm thận hư tổn gây ra như chóng mặt, mắt mờ, ù tai, điếc, tê liệt tứ chi, lưng gối mỏi, tóc bạc sớm. Mỗi lần 10 ml, ngày 2 lần, uống vào sáng và chiều. Dưỡng huyết sinh phát hoàn có công dụng dưỡng huyết bổ thận, trừ phong sinh tóc, chủ trị các chứng do huyết hư thận suy gây ra như rụng tóc, rụng tóc sau bệnh, rụng tóc do tiết nhờn, ngứa da đầu. Mỗi lần 4 viên, ngày 3 lần. Quy sả địa hoàng hoàn có công dụng bổ huyết tư âm, chủ trị các chứng do huyết hư âm hư gây ra như chóng mặt, mắt mờ, nhìn mờ, hồi hộp, mất ngủ, sốt về đêm, miệng khô, hai bên sườn đau, rối loạn kinh nguyệt. Mỗi lần 1 viên, ngày 2 lần, dùng nước muối loãng hoặc nước ấm pha uống. Thuốc đông y bổ huyết chủ yếu nhằm loại bỏ hoặc cải thiện các triệu chứng do huyết hư gây ra. Vì huyết hư thường đi kèm khí hư, huyết hư đi kèm âm hư, nên khi sử dụng thuốc đông y bổ huyết cần dựa vào biểu hiện chính là huyết hư.<>bổ huyết bằng thảo dược
|