Bệnh tim phổi 1 Bệnh này là nhóm bệnh do tổn thương nguyên phát ở mô phổi hoặc động mạch phổi và các nhánh của nó gây tăng sức cản tuần hoàn phổi, dẫn đến tăng huyết áp động mạch phổi, làm cho tâm thất trái giãn rộng và suy kiệt. Theo Đông y, tà khí ngoại cảm (lục dâm) xâm nhập, khiến phổi mất chức năng tuyên phát và giáng xuống, đàm khí giao kết, tắc nghẽn khí đạo, gây ho, khạc đàm, khó thở, ho, thở gấp kéo dài sẽ tổn thương khí phổi, lâu ngày thành phổi trương, là nền tảng phát bệnh. Khí phổi hư yếu, ảnh hưởng đến tỳ, thận; tỳ thận cùng bệnh thì thủy thấp lan tràn, xuất hiện phù thũng, hồi hộp, khó thở, tình trạng bệnh nặng hơn. Các phương thuốc dân gian, hiệu quả thường dùng như sau. [Phương thứ nhất] Đậu cà phê适量. Rang đậu cà phê, mỗi ngày dùng 10g, sắc đậm, uống. [Phương thứ hai] Cây mắt mèo (cỏ泽漆) thân lá 30–60g, trứng gà 2 quả. Rửa sạch cây mắt mèo, cắt nhỏ, thêm 500ml nước, cho trứng cùng đun, khi trứng chín bỏ vỏ, đâm vài lỗ nhỏ, tiếp tục cho vào nồi thuốc đun sôi vài lần, lọc bỏ bã. Trước tiên ăn trứng, sau đó uống nước thuốc, mỗi ngày một thang. [Phương thứ ba] Trần bạch giới tử, ngưu hoàng mỗi thứ 21g,甘suối, tế tân mỗi thứ 12g, hoa dương kim, gừng khô, sáp hương, phenobarbital. Trộn Trần bạch giới tử, ngưu hoàng,甘suối, tế tân thành bột mịn, sau đó trộn với hoa dương kim, gừng khô, sáp hương và phenobarbital, chế thành cao dán. Chọn hai nhóm huyệt: nhóm A gồm Tâm du (hai bên), Phế du (hai bên), Cách du (hai bên); nhóm B gồm Thiên đỉnh, Thương trung, Đại trụ, Linh đài, Cao lương (hai bên). Trước khi dán, xoa bóp huyệt để da đỏ lên, hoặc dùng lọ hút. Mỗi lần dán 4–6 giờ, mỗi tuần 1–2 lần, 6 lần là một liệu trình; cũng có thể dùng vào mùa hè, mỗi lần dán một lần, dán liên tục 3 lần, dán trong 3 mùa hè. [Phương thứ tư] Một quả lê, hạnh nhân Qg. Cắt nắp quả lê, bỏ hạt, khoét lỗ, cho hạnh nhân nghiền nát vào, đậy nắp cũ, đun nước, mỗi ngày một lần, uống vào buổi tối. [Phương thứ năm] Tim heo 3 cái, táo tàu 100 quả, rượu 3–5g. Ngâm vài ngày, vắt bỏ bã, mỗi lần uống 20ml, ngày 2–3 lần. [Phương thứ sáu] Thiên cầm thảo 60g, kim ngân hoa 6g, cỏ蒿 20g, Đan sâm 8g. Các vị thuốc trên chế thành dung dịch tiêm, mỗi chai 30ml, pha vào dung dịch glucose 5%–10%. Tiêm tĩnh mạch, người lớn mỗi ngày một lần, 10–15 ngày là một liệu trình. [Phương thứ bảy] Thái tử sâm 9g, hoàng kỳ 15g, ngọc trúc 9g, phụ phẩm 6g, bổ cốt chi 9g, dâm dương hoắc 15g, Đan sâm, xích thược mỗi thứ 9g, hồng hoa 6g, hổ trượng 15g. Chế thành viên đường, mỗi lần 0,3g, mỗi lần 6 viên, ngày 3 lần; điều trị trong 3 tháng là một liệu trình, dùng liên tục 2 liệu trình. [Phương thứ tám] Đảng sâm 9g, đương quy 24g, Đan sâm, sinh nhũ hương, bách bộ mỗi thứ 15g, hổ phách 9g, thịt nhục dung 15g, tử hà xa 9g, thố phu trùng 24g. Tán thành bột mịn, chia thành 90 gói, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 gói, uống với nước ấm, 30 ngày là một liệu trình. Phương này dùng cho giai đoạn ổn định của bệnh tim phổi mạn tính. [Phương thứ chín] Đông hoa, hạnh nhân, bách bộ, cam thảo, mạch môn, tử thảo, trần cương mỗi thứ 10g, địa long 12g, hoàng cầm 15g, Đan sâm, xích thược mỗi thứ 12g, công anh 15g; tri mẫu 15g, bí đao 20g. Sắc uống, mỗi ngày 2 lần, mỗi 15–20 ngày là một liệu trình. [Phương thứ mười] Nam sa sâm 50g, hoàng tinh, tô tử, xích thược mỗi thứ 30g, mộc蝴蝶 10g, địa long 12g, chế nam tinh, đình lực tử mỗi thứ 15g, hoàng cầm 30g, cam thảo 15g, trầm hương 6g (tán thành bột, chia làm 6 lần pha uống). Sắc uống. Lần đầu cho nước vừa đủ, đun sôi 15 phút lấy nước; lần hai cho nước vừa đủ, đun sôi 20 phút lấy nước; lần ba cho nước vừa đủ, đun sôi 25 phút lấy nước. Ba lần nước sắc trộn vào một bình, lắc đều, chia làm 6 lần uống. Người bệnh nặng uống 3 lần ban ngày, 1 lần ban đêm; người bệnh nhẹ uống 3 lần ban ngày. Uống 1/6 phần nước khi còn ấm, phần còn lại để tủ lạnh, đun nóng lại 5 lần, uống ấm. Phương này là phương thuốc hiệu nghiệm nổi tiếng của bác sĩ Đông y Lý Khổng Định tỉnh Tứ Xuyên. Công dụng: dưỡng âm bổ khí, thanh nhiệt hóa đàm, giáng khí hoạt huyết, nạp khí quy thận. Dùng cho trường hợp ho, thở khó tái phát kéo dài, lâu ngày không khỏi, dẫn đến rối loạn chức năng ngũ tạng, rối loạn vận hành khí huyết, dịch thể, thường gặp các triệu chứng ho, thở khó, đàm, thậm chí dịch thể tràn ra ngoài da gây phù thũng. Áp dụng cho chứng phổi trương trong Đông y, hay bệnh phổi giãn và bệnh tim phổi mạn tính không kèm nhiễm trùng ngoại cảm theo y học hiện đại. Khi bệnh giảm không nên ngừng thuốc, chỉ cần bỏ đình lực tử, giảm một nửa liều lượng tô tử, địa long, hoàng cầm, xích thược, cam thảo, thêm bạch truật 15g, nữ trinh tử 10g, tăng cường chức năng phổi, tỳ, thận, phòng ngừa ngoại tà, giảm tái phát. Nếu hồi hộp, khó thở nặng, tăng nam sa sâm lên 100g, đình lực tử tăng lên 30g; nếu đàm nhiều, ho không thoải mái, tăng chế nam tinh lên 30g; đối với bệnh nhân dùng hormone kéo dài, có thể tăng cam thảo lên 30g, giảm dần hoặc ngừng dùng hormone, đồng thời giảm dần liều cam thảo; nếu đàm ứ, huyết ứ, tắc nghẽn khí phổi, huyết ứ tâm phổi, thấy môi, móng tay tím tái, u cục ở hông, thêm đào nhân, ngũ gia bì; nếu dương hư thủy phạm, mặt phù, chân phù, giảm liều cam thảo, thêm phục linh, phụ phẩm; nếu tâm dương sắp suy, thêm nhân sâm hoặc kết hợp sinh mạch tán, thêm phụ phẩm, long cốt; nếu đàm mê thần minh, thần trí mơ hồ, lúc tỉnh lúc mê, thêm thạch xương bồ, viễn chí. <Điều trị bệnh tim phổi>
|