Thuốc hoạt huyết lý khí Thuốc hoạt huyết: là loại thuốc chủ yếu có tác dụng thông mạch, thúc đẩy tuần hoàn máu, điều chỉnh chức năng tạng phủ và điều trị chứng huyết ứ; loại thuốc này thường đi theo hướng tán, có tác dụng hành huyết, tán ứ, thông kinh, lợi痹, tiêu thũng, định thống. Thuốc lý khí: là loại thuốc chủ yếu có tác dụng lưu thông khí cơ, giải uất, giáng khí, điều chỉnh chức năng tạng phủ và điều trị chứng khí trệ, khí nghịch; loại thuốc này phần lớn mùi thơm, tính ôn, thường hành tán hoặc tả hạ, nhưng dễ tổn thương khí và âm, vì vậy người bị khí hư hay âm hư không nên dùng. ① Tam thất Tam thất là rễ của cây Tam thất thuộc họ Ngũ gia, chứa nhiều saponin Tam thất, khoảng trên 12 loại saponin kết hợp, một số giống với saponin trong Nhân sâm; các thí nghiệm chứng minh rằng bột Tam thất hoặc dịch chiết có thể rút ngắn thời gian đông máu ở động vật, có hiệu quả tốt trong việc cầm máu các tổn thương nội tạng như gan, lách; đối với các bệnh xuất huyết như ho ra máu, tiểu ra máu, chảy máu mắt, sử dụng Tam thất đều đạt hiệu quả rõ rệt; ngoài ra, Tam thất còn có thể giãn mạch vành tim, tăng lưu lượng máu vành, giảm huyết áp, giảm tiêu thụ oxy cơ tim, nâng cao khả năng chịu thiếu oxy của động vật, do đó có tác dụng chống thiếu máu cơ tim. Theo y học cổ truyền, Tam thất có tính ấm, vị ngọt, hơi đắng, công năng tán ứ chỉ huyết, thích hợp cho các trường hợp ngã té gây tụ huyết, chảy máu do chấn thương, đau nhức mủ độc; khi chế biến thành phẩm nấu chín, Tam thất còn có tác dụng bổ huyết, hòa huyết, dùng cho các trường hợp mất máu và thiếu máu. Lượng dùng: thường dùng dạng bột, uống với nước ấm hoặc pha vào thuốc sắc; mỗi lần 0,5–3g, ngày 2 lần. ② Xuyên Khung Xuyên Khung là thân rễ của cây Xuyên Khung thuộc họ Cúc, chứa dầu bay hơi, alkaloid, chất phenolic, lactone, axit hữu cơ... Có tác dụng kháng tập đoàn tiểu cầu, làm giảm hoạt tính bề mặt tiểu cầu, phòng ngừa hình thành huyết khối, đồng thời có tác dụng phân giải khối đông đã hình thành; có tác dụng giãn mạch vành tim, tăng lưu lượng máu vành và giảm tiêu thụ oxy cơ tim; còn cải thiện tuần hoàn vi mô; có tác dụng giảm đau, an thần và hạ huyết áp, có tác dụng phòng ngừa thiếu vitamin E, ức chế tế bào bạch cầu ác tính. Theo y học cổ truyền, Xuyên Khung có tính ấm, vị cay, công năng hoạt huyết hành khí khu phong chỉ thống, thích hợp cho các chứng đau đầu do ngoại cảm phong tà, đau nhức cơ khớp, đau do huyết ứ, như bệnh tim thiếu máu cục bộ, viêm tắc mạch, tăng huyết áp. Lượng dùng: 1,5–9g; nhưng người có âm hư hỏa vượng thì không nên dùng. ③ Đan Sâm Đan Sâm là rễ của cây Đan Sâm thuộc họ Bồ Công Anh, chứa các thành phần phthalide: Đan Sâm Tôn, Dị Đan Sâm Tôn, Ẩn Đan Sâm Tôn... Có thể cải thiện tuần hoàn vi mô, nâng cao khả năng chịu thiếu oxy của cơ thể; giãn mạch vành tim, tăng lưu lượng máu vành, đồng thời làm chậm nhịp tim; thúc đẩy phục hồi và tái tạo mô; có tác dụng chống đông máu, đồng thời có một số tác dụng kháng khuẩn; bất kỳ bệnh cấp hay mãn tính nào có dấu hiệu huyết ứ hoặc lưu thông máu kém đều có thể dùng. Theo y học cổ truyền, Đan Sâm có tính hơi lạnh, vị đắng, công năng hoạt huyết tán ứ, sinh huyết mới, lương huyết, an thần, thích hợp cho các chứng đau thắt ngực, kinh nguyệt không đều, đau kinh, kinh nguyệt tắt, băng huyết, ra khí hư, chứng tích, khối u, đau bụng do huyết ứ, đau xương khớp, tâm thần bất an, ngủ không yên, mụn nhọt đau sưng. Lượng dùng: thường dùng từ 9–30g; nhưng người có kinh nguyệt quá nhiều hoặc ho ra máu, tiểu ra máu thì cần thận trọng. ④ Hồng Hoa Hồng Hoa là hoa của cây Hồng Hoa thuộc họ Cúc, chứa các thành phần flavonoid: Hồng Hoa Glycosid, Hồng Hoa Quinon Glycosid, Hồng Hoa Glycosid mới, ngoài ra còn chứa dầu Hồng Hoa, polysaccharide... Các chế phẩm Hồng Hoa có tác dụng tăng lưu lượng máu ở động mạch vành và động mạch đùi; có tác dụng hạ huyết áp, chống đông máu và ức chế hình thành huyết khối; có khả năng giúp tim nhanh chóng trở lại nhịp đập bình thường mà ít bị rung nhĩ, đồng thời có tác dụng chống thiếu oxy rõ rệt; có tác dụng kích thích cơ trơn tử cung, làm tăng rõ rệt nhịp co bóp của tử cung. Theo y học cổ truyền, Hồng Hoa có tính ấm, vị cay, công năng hoạt huyết thông kinh, tán ứ chỉ thống, thích hợp cho các chứng kinh nguyệt tắc, đau kinh, sản dịch không xuống, khối u bụng, chấn thương do ngã. Lượng dùng: thường dùng từ 2–9g; nhưng người không có huyết ứ hoặc phụ nữ mang thai thì kiêng dùng. ⑤ Dưỡng Thận Thảo Dưỡng Thận Thảo là toàn cây của cây Dưỡng Thận Thảo thuộc họ Bồ Công Anh, chứa alcaloid Dưỡng Thận Thảo, sterol thực vật và lượng lớn kali clorua... Dưỡng Thận Thảo có tác dụng kích thích rõ rệt lên ruột và cơ trơn tử cung; có tác dụng hạ huyết áp, tăng lưu lượng máu vành tim, cải thiện tuần hoàn vi mô, làm chậm nhịp tim và chống tập đoàn tiểu cầu. Lâm sàng chứng minh rằng dịch sắc Dưỡng Thận Thảo dùng để điều trị kinh nguyệt không đều, chảy máu tử cung sau sinh, tử cung không hồi phục, kinh nguyệt quá nhiều đều có hiệu quả rõ rệt. Theo y học cổ truyền, Dưỡng Thận Thảo có tính mát, vị cay, đắng, công năng điều kinh hoạt huyết, tán ứ sinh tân, lợi tiểu tiêu thũng, thích hợp cho các chứng kinh nguyệt không đều, đau kinh, kinh nguyệt tắt, sản dịch không hết, phù thũng thận cấp tính. Lượng dùng thường từ 6g–9g. ⑥ Hương Phụ Hương Phụ là thân rễ của cây Sậy (thuộc họ Cỏ Sậy), chứa dầu bay hơi, chất phenolic, glucose, fructose, tinh bột... có thể ức chế co thắt cơ trơn tử cung, làm dịu độ căng cơ; dịch sắc có tác dụng làm giảm tính căng thẳng ruột và đối kháng với acetylcholine; có tác dụng ức chế một số nấm mốc, đồng thời có tác dụng giảm đau. Theo y học cổ truyền, Hương Phụ có tính bình, vị cay, ngọt, công năng sơ can lý khí, điều kinh chỉ thống, thích hợp cho các chứng can vị bất hòa, khí uất không thư thái, đầy tức ngực sườn, bụng, đau kinh, kinh nguyệt không đều, ăn uống khó tiêu do can uất. Lượng dùng: 6–12g.
|