Phương Thuốc Dân Gian
Trang ChủPhương Thuốc Dân GianDanh Phương Thảo Dược Đánh dấu trang

Truy cập nhanh

Dưới đây là các liên kết nhanh cho các triệu chứng phổ biến:

Thông báo quan trọng: Các bài thuốc trên trang web này chỉ mang tính chất tham khảo. Vui lòng tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng.
7000+
Tổng số bài thuốc
9
Ngôn ngữ hỗ trợ
10
Danh mục
24/7
Khả năng tiếp cận
Tìm Kiếm Phương Thuốc Dân Gian Trung Quốc
Tìm kiếm bài thuốc:
Phân loại bài thuốc:: Nội Khoa Ngoại Khoa U Bướu Da Liễu Ngũ Quan Phụ Khoa Nam Khoa Nhi Khoa Chăm Sóc Sức Khỏe Rượu Thuốc Khác

Phương Thuốc Dân Gian / Nam khoa / Liệt dương loại / Phương pháp dân gian thường dùng điều trị di tinh hiệu quảBài Trước Xem Tất Cả Bài Tiếp

Phương pháp dân gian thường dùng điều trị di tinh hiệu quả

Chỉ nam giới khi ngủ bị mộng, hoặc không mộng, thậm chí lúc tỉnh táo cũng xảy ra hiện tượng tiết tinh không tự chủ, gọi là di tinh. Loại di tinh này là bệnh lý, cứ mỗi tuần trên hai lần, thậm chí lúc tỉnh táo cũng chảy tinh, kèm theo các triệu chứng như đầu đau, tinh thần suy nhược, mất ngủ, đau lưng mỏi gối... Không bao gồm trường hợp như đoạn “Di tinh” trong “Cảnh Nguyệt toàn thư” nói: “Người trẻ tuổi khí thịnh, lâu nay kiềm chế dục vọng mà bị di tinh, đây là đầy thì tràn ra.” Trường hợp này thuộc sinh lý, thường không có triệu chứng rõ ràng. Các phương pháp dân gian thường dùng và có hiệu quả điều trị di tinh chủ yếu như sau. [Phương I] Quả khổ qua 1 trái, bột thạch hộc 10–15 gram, đường phèn 30 gram. Nghiền nát khổ qua thành bột, trộn đều với bột thạch hộc và đường phèn, uống một lần hoặc chia làm hai lần. Phương này thanh nhiệt, bổ âm, khư tinh, phù hợp với chứng di tinh do âm hư hỏa vượng gây ra. [Phương II] Nhân hồ đào 60 gram, hẹ 150 gram. Xào chín bằng dầu mè, thêm muối, gừng, hành, gia vị vừa đủ, ăn kèm cơm. Phương này ôn thận cố tinh, phù hợp với chứng di tinh do thận hư không giữ được tinh. [Phương III] Thạch hộc, sơn dược mỗi thứ 30 gram, liên tử 15 gram, sa nhân sao 9 gram, đảng sâm 3 gram. Đun thuốc bằng nước vừa đủ, nấu nhỏ lửa, uống nước thuốc, sau đó trộn thêm 15 gram đường trắng vào phần bã thuốc để ăn cùng, mỗi ngày làm như vậy. Phương này kiện tỳ, bổ thận, cố tinh, phù hợp với chứng di tinh. [Phương IV] Hạt chi tử 3–5 gram, tâm liên tử 10 gram, gạo tẻ 50–100 gram. Nghiền hạt chi tử thành bột mịn, trước tiên nấu gạo tẻ và tâm liên tử, khi cháo gần chín thì rưới bột chi tử vào, nấu thêm một chút, hoặc thêm đường trắng vừa phải để ăn. Phương này thanh nhiệt lợi thấp, chỉ di tinh, phù hợp với chứng di tinh do thấp nhiệt nội tàng gây ra. [Phương V] Sinh địa 20 gram, thiên đông, mạch đông, sơn thù mỗi thứ 10 gram, đảng sâm, phục thần, viễn chí mỗi thứ 8 gram, dạ giao滕, mẫu lệ mỗi thứ 30 gram, hoàng liên, nhục quế mỗi thứ 3 gram, cam thảo 6 gram. Sắc uống, mỗi ngày một thang, uống buổi tối. Phương này bổ âm hạ hỏa, thông giao tâm thận, phù hợp với chứng di tinh do tâm thận bất giao gây ra. [Phương VI] Cổ sài, phục linh, xa tiền tử, bạch truật, mộc thông, trạch tả, thạch xương bồ, đan sâm mỗi thứ 10 gram, hoàng bá 6 gram, tâm liên tử 3 gram. Sắc uống, mỗi ngày một thang, uống buổi tối. Phương này thanh nhiệt lợi thấp, phân thanh dẫn trọc, phù hợp với chứng di tinh do thấp nhiệt hạ chút gây ra. [Phương VII] Chi tử, hoàng cầm, long đởm thảo, mộc thông mỗi thứ 6 gram, bạch thược, sinh địa, đan bì, sơn chi, ngũ vị tử mỗi thứ 10 gram, sài hồ, xuyên luyện tử, cam thảo mỗi thứ 6 gram. Sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương này sơ can giải uất, thanh tả tương hỏa, phù hợp với chứng di tinh do tương hỏa thịnh. [Phương VIII] Sơn dược, đảng sâm, hoàng kỳ mỗi thứ 10 gram, phục linh, phục thần mỗi thứ 8 gram, viễn chí, cụ cảng mỗi thứ 6 gram, mộc hương, cam thảo mỗi thứ 3 gram, táo nhân, liên tu, thạch hộc mỗi thứ 8 gram, long cốt, mẫu lệ mỗi thứ 10 gram. Sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương này điều bổ tâm tỳ, phù hợp với chứng di tinh do tâm tỳ khí hư gây ra. [Phương IX] Thổ nguyệt tật lý 7 gram, thạch hộc 10 gram, liên tu 4 gram, ngũ vị tử 8 gram, long cốt đã qua chế biến, ngân mẫu lệ, kim anh tử, thục địa, bổ cốt chỉ mỗi thứ 10 gram, tiên linh bài 15 gram. Sắc uống, mỗi ngày một thang, chia làm hai lần uống. Phương này ôn bổ thận dương, phù hợp với chứng di tinh do thận khí bất cố gây ra. [Phương X] Ngũ vị tử, cơ nội kim mỗi thứ 30 gram. Sấy khô thuốc, nghiền thành bột mịn, uống với nước nóng, mỗi ngày ba lần. Phương này phù hợp với chứng di tinh do âm hư hỏa vượng. [Phương XI] Thận lợn 1 quả, bột phụ tử 3 gram. Thái thận lợn mở ra, bỏ màng, cho bột phụ tử vào, gói bằng giấy ướt, hấp chín, ăn lúc bụng đói, uống một ly rượu, dùng từ 3–5 lần sẽ hiệu quả. Phương này phù hợp với chứng di tinh. [Phương XII] Dưỡng trí nhân 60 gram, ô dược 45 gram, sơn dược 30 gram. Nghiền thành bột, làm thành viên nhỏ như hạt đậu, dùng gạo nếp làm lớp ngoài, mỗi lần uống 60 viên. Phương này phù hợp với chứng di tinh. [Phương XIII] Liên tử 1 lượng, gạo tẻ, đường phèn mỗi thứ 2 lượng. Cho liên tử vào nồi, thêm nửa bát nước, một ít xà phòng, đun sôi trên lửa, dùng que tre chà rửa nhiều lần, bỏ vỏ đỏ, tim liên tử, ngâm nước sạch 1 đêm, nghiền thành dạng hạt gạo nhỏ. Rửa sạch gạo tẻ, cho vào nồi cùng liên tử nấu, khi gạo nở bung, thêm đường phèn, nấu đến nhừ thành cháo. Liên tử chứa nhiều chất dinh dưỡng, còn có công hiệu kiện tỳ dưỡng thần, nhẹ người kéo dài tuổi thọ, phù hợp với các chứng đau lưng di tinh, mắt đỏ đau, tiêu chảy do tỳ hư. [Phương XIV] Thạch hộc 150 gram, cơ nội kim 30 gram, bột mì, đường cát trắng vừa đủ. Thạch hộc, cơ nội kim nghiền nhỏ, sàng lọc để dùng. Cơ nội kim cho vào chậu, đổ nước sôi ngâm, rửa nguội lại, thêm thạch hộc, đường cát trắng, bột mì, trộn đều, làm bánh mỏng rất mỏng, nướng vàng cháy để ăn. Phương này có công hiệu kiện tỳ cố thận, vận tỳ tiêu thực, phù hợp với chứng tỳ hư thực tích, tiêu hóa kém, thận hư di niệu, di tinh. Phương này trích từ “Y học trung tâm tham Tây lục”, bản gốc dùng cho “người già khí hư, không thể hành đàm, khiến đàm khí uất kết, ngực đầy tức, sườn đau, mọi người khí hư đàm thịnh đều dùng đều hiệu quả, đồng thời trị chứng sán khí”. Đây là phương thuốc điều trị tỳ hư thực tích và thận hư di niệu, di tinh. Tỳ hư vận hóa không lực, thức ăn đình trệ không tiêu, nên thấy chứng tỳ hư thực tích; thận hư cố tinh không lực, nên thấy di niệu, di tinh. Pháp điều trị cần kiện tỳ cố thận, vận tỳ tiêu thực. Trong phương này, thạch hộc và cơ nội kim là chủ dược, thạch hộc kiện tỳ cố thận, cơ nội kim vận tỳ tiêu thực, cố tinh chỉ di, hai vị phối hợp tăng cường hiệu lực kiện tỳ tiêu thực, cố thận chỉ di; bột mì và đường cát trắng là phụ dược, bột mì phối hợp với thạch hộc, một vị kiện tâm, một vị kiện thận, giúp tâm thận tương tế, thủy hỏa điều hòa; đường cát trắng kiện tỳ ích vị, hỗ trợ thạch hộc, cơ nội kim. Tất cả phối hợp, tạo thành phương thuốc kiện tỳ cố thận, vận tỳ tiêu thực. Phương này vừa bổ vừa tiêu, đặc biệt phù hợp với người già hoặc trẻ em thể hư thực tích. “Y học trung tâm tham Tây lục” còn đề cập việc bỏ thạch hộc trong phương này, dùng cho “trẻ em ăn mòn, bụng đầy, người lớn mắc chứng u bướu tích tụ”. Phương này không phù hợp với người ngoại cảm chưa tan, tiểu đỏ táo bón, âm hư hỏa vượng.

Cách sử dụng trang web

  1. Nhập tên bệnh hoặc triệu chứng vào ô tìm kiếm
  2. Nhấp vào nút tìm kiếm để tìm bài thuốc liên quan
  3. Duyệt kết quả tìm kiếm, nhấp vào bài thuốc quan tâm
  4. Đọc kỹ hướng dẫn chi tiết và cách sử dụng của bài thuốc
  5. Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi sử dụng

Tìm kiếm phổ biến tuần này

Liên hệ chúng tôi

Nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc đề xuất nào, vui lòng liên hệ với chúng tôi

Email: [email protected]