An Cung Ngưu Hoàng Hoàn 【Nguồn】"Nhiễm Bệnh Điều Biện" quyển nhất. 【Thành phần】Ngưu Hoàng 30 gram, Dưỡng Kim 30 gram, Tê Giáp 30 gram, Hoàng Liên 30 gram, Chu Sa 30 gram, Mai Phiến 7,5 gram, Trần Hương 7,5 gram, Chân Châu 15 gram, Sơn Chi 30 gram, Hùng Hoàng 30 gram, Hoàng Cầm 30 gram 【Cách dùng】Tán thành bột mịn, luyện mật ong già thành viên, mỗi viên 3 gram, phủ lớp vàng lá, bảo quản bằng sáp. Mỗi lần dùng 1 viên; nếu mạch hư, dùng nước nhân sâm; nếu mạch thực, dùng nước hoa cúc, bạc hà. Người lớn bệnh nặng thể cường, ngày dùng 2-3 viên; trẻ nhỏ dùng nửa viên, nếu chưa rõ hiệu quả thì dùng thêm nửa viên nữa. 【Công dụng】Thanh nhiệt giải độc, hóa đàm khai khiếu. 【Chỉ định】Bệnh nhiệt, nhiệt tà nhập tâm bảo, đàm nhiệt tắc kín tâm khiếu, sốt cao, bồn chồn, hôn mê nói mê, hoặc lưỡi cứng tay chân lạnh, hoặc tiêu chảy mạch thực, cũng như chứng trúng phong tắc khiếu, trẻ nhỏ co giật do đàm nhiệt tắc kín tâm khiếu. Hiện nay dùng cho viêm não Nhật Bản, viêm màng não dịch truyền, kiết lỵ nhiễm độc, suy thận, tai biến mạch máu não, viêm gan nhiễm độc, hôn mê gan thuộc loại đàm nhiệt mê sảng. 【Lý luận phương thuốc】Trong phương này, Ngưu Hoàng thanh tâm giải độc, hóa đàm khai khiếu, Tê Giáp thanh tâm, lương huyết giải độc, Trần Hương khai khiếu tỉnh thần, ba vị này cùng là quân dược; Hoàng Liên, Hoàng Cầm, Sơn Chi thanh hỏa tam giao, Hùng Hoàng hóa đàm, cùng là thần dược; Dưỡng Kim, Mai Phiến thơm mát trừ ô uế, thông khiếu mở tắc, thâm nhập vào tâm bảo; Chu Sa, Chân Châu, vàng lá an thần, mật ong hòa vị điều trung, cùng là tả dược. Các vị thuốc phối hợp, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, hóa đàm khai khiếu. 【Nghiên cứu thực nghiệm】1. Tác dụng chống co giật: Báo "Thông tin Y học Trung Quốc" năm 1989 (106): 2, phương này có thể chống lại tác dụng kích thích của phenobarbital ở chuột, làm chậm đáng kể hiện tượng co giật do penthylentetrazol gây ra ở chuột, giảm tỷ lệ co giật và tử vong. Điều này cho thấy có tác dụng ức chế đối với vỏ não, bảo vệ trung khu sống tốt. Ngoài ra còn có tác dụng chống co giật do strychnine. 2. Tác dụng hạ sốt: Báo "Thông tin Y học Trung Quốc" năm 1989 (106): 2, phương này có tác dụng hạ sốt rõ rệt đối với thỏ bị sốt do độc tố vi khuẩn, sau khi dùng thuốc một giờ so với nhóm đối chứng có sự khác biệt rõ rệt (P |